Có những thông tin "cũ" rồi - nhưng vẫn rất đáng để tham khảo về kinh nghiệm cũng như cách sống của họ trong ngành kinh tế và cuộc sống (: "luôn luôn tìm thú vị khi làm những việc tưởng chừng không thể" và "bạn sẽ khám phá ra điều gì đó khi bạn không làm vì tiền".
Đối với Walter Elias Disney - "cỗ máy sản xuất ra các ý tưởng", thành công là phải theo đuổi đến cùng niềm đam mê lớn nhất trong đời, "luôn luôn tìm thú vị khi làm những việc tưởng chừng không thể" và "bạn sẽ khám phá ra điều gì đó khi bạn không làm vì tiền".
Hành trình theo đuổi niềm đam mê Tuổi thơ êm đềm của cậu bé Walt Disney trôi qua tại một trang trại ở Marceline, bang Missouri, bên cạnh bốn người anh chị của mình. Những khám phá về một thế giới bên trong trang trại đã trở thành khởi nguồn cho một niềm say mê kỳ lạ của Disney: đó là vẽ. Cậu bé lưu giữ tất cả những hình ảnh đó bằng nét vẽ. Cậu miệt mài vẽ và vẽ tất cả những gì có thể. Và bằng những mẩu than đá, cậu bé sáng tạo nên một thế giới diệu kỳ của riêng cậu trên mọi chất liệu. Trên những mẩu giấy vệ sinh, cậu vẽ nên những tác phẩm đầu đời... Năm Disney lên bảy, cậu đã biết kiếm những đồng tiền đầu tiên từ chính niềm đam mê của mình. Một bác sĩ nghỉ hưu sống gần nhà Disney đã trả tiền để cậu vẽ tranh về con ngựa của ông ta. Nhưng cũng vì quá ham mê vẽ tranh nên cậu bé bỏ bê luôn cả việc học. Bố mẹ cậu không hài lòng chút nào về việc này. Họ đã cất hết đồ vẽ của cậu, và cậu chỉ được phép vẽ tiếp khi nào chăm chỉ đi học trở lại. Với Walt Disney, quãng thời gian thơ ấu đó là những năm tháng đẹp nhất trong đời... Những tháng ngày bình yên ở trang trại sớm kết thúc vào năm Disney tròn tám tuổi. Bố của cậu bị bệnh thương hàn và không thể làm việc được nữa. Trang trại phải bán đi và gia đình Disney chuyển đến thành phố Kansas. Ở đó, niềm say mê với cây bút vẽ bị gác lại vì cậu phải kiếm tiền. Cậu phải thức giấc vào lúc 3 giờ sáng để rao báo trên các khu phố. Trong ý nghĩ của các thầy cô giáo, Disney chỉ là một cậu học trò trung bình, với thiên hướng là làm cho mọi thứ nguệch ngoạc hơn là biết vâng lời. 15 tuổi, cậu nhận việc làm thêm vào dịp hè ở nhà ga Santa, bán các thứ lặt vặt cho khách. Nhưng rồi, Disney lại thấy thích thú với những chuyến ngao du trên tàu hơn là việc bán hàng. Lên trung học, cậu dành phần lớn thời gian để vẽ tranh cho báo trường và không mấy để tâm tới các môn học khác. Hầu hết khoảng thời gian buổi tối của cậu đều dành cho lớp học ở Viện nghệ thuật Chicago. 16 tuổi, Disney rời trường học để gia nhập quân đội, nhưng vì quá nhỏ nên cậu bị từ chối. Sau đó, cậu quyết định làm giả mạo giấy khai sinh và tham gia Tổ chức Chữ thập đỏ Mỹ, nhưng thời điểm cậu hoàn thành xong khóa đào tạo thì cũng là lúc chiến tranh kết thúc. Disney quyết định ở lại Pháp và làm lái xe cứu thương. Không giống như những chiếc xe cứu thương khác, chiếc xe của Disney được trang hoàng bằng rất nhiều tranh cổ động do cậu sáng tạo. Sau hai năm bôn ba và trải nghiệm cuộc sống một mình tại châu Âu, chàng trai trẻ Disney chợt nhận ra một điều vô cùng quan trọng. Và cậu đưa ra một quyết định rất nghiêm túc: trở về Mỹ. Về Mỹ, Disney chạy thật nhanh về nhà gặp cả gia đình. Hứng khởi và đầy hồi hộp, cậu muốn chia sẻ với họ niềm đam mê mà bấy lâu hằng tìm kiếm. Cậu nói với cả nhà rằng: "Con sẽ trở thành một họa sĩ hoạt hình!". Tràn ngập trong hạnh phúc của niềm đam mê nghệ thuật chân chính, chàng họa sĩ trẻ Walt Disney chờ đợi những lời ủng hộ thốt lên, những cái ôm xiết chặt và những nụ cười rạng rỡ. Nhưng, thông điệp mà cậu nhận được là một cái lắc đầu của bố... Không chịu bỏ cuộc, với sự hỗ trợ của anh Roy, Disney đã tìm được việc in các tấm quảng cáo ở Phòng Mỹ thuật Pesemen - Rubin. Tại đây, Disney tiếp tục thử nghiệm thể loại hoạt hình. Disney nhanh chóng bị cuốn vào khả năng có thể làm ra phim hoạt hình. Lúc này, Disney vô cùng thỏa chí khi tìm được điều mình thực sự thích thú. Và Disney bắt đầu nghĩ đến việc sinh lợi...
Vẽ ý tưởng thành lợi nhuận Trong lúc làm việc ở Phòng Mỹ thuật Pesemen-Rubin, Disney đã gặp Ubbe Iwwerks - một người vẽ tranh biếm họa. Hai người trở thành bạn thân. Họ chia sẻ ý tưởng, niềm đam mê và quyết định cùng nhau lập ra công ty đầu tiên có tên là Iwerks-Disney Commercial Artists. Nhưng, những kỳ vọng của hai người đã bị dập tắt chỉ sau một tháng công ty hoạt động. Có quá ít khách hàng tìm tới họ. Cả hai đến làm việc ở hãng quảng cáo thành phố Kansas - nơi họ tiếp tục thử nghiệm phim hoạt hình với các kỹ thuật khác nhau. Sau 2 năm, Disney vẫn chưa tìm hài lòng, ông bỏ việc để mở công ty thứ hai. Công ty thứ hai mà Disney thành lập có tên là Hãng phim Laugh-O-Gram, chuyên sản xuất những phim hoạt hình ngắn dựa trên các câu chuyện của trẻ em. Các phim của Disney thu được thành công ở Kansas, nhưng ở nơi khác thì lại không thu được nhiều lợi nhuận. Trong khi đó, việc duy trì các bộ phim lại ngốn rất nhiều tiền. Alice ở xứ sở thần tiên có thể là câu chuyện ngắn cuối cùng trước khi công ty này phá sản vào năm 1923. Vẫn cương quyết theo đuổi niềm đam mê của mình, Disney bán máy quay và mua vé tàu một chiều tới Los Angeles, California. Ông nộp đơn khắp nơi để xin làm đạo diễn phim nhưng các hãng phim đều cự tuyệt. Disney quyết định quay trở lại với phim hoạt hình. Ông gửi một bản copy của vở Alice ở xứ sở diệu kỳ tới một nhà phân phối ở New York, vì có người muốn hợp tác với Disney. Sau khi thuyết phục người anh trai giúp mình về tài chính và thuyết phục Iwwerks chuyển đến California, họ chính thức thành lập xưởng phim Anh em nhà Disney. Ông cũng thuê một họa sĩ có tên là Lillian Bounds - người sau này trở thành vợ của ông. Sau 4 năm thành công khiêm tốn, loạt hài kịch Alice kết thúc. Hãng Universal Pictures ủy quyền cho Disney với loạt phim mới có tên gọi "Chú chuột may mắn Oswald". Loạt phim này đã mang lại thành công cho hãng và tiếp tục được xưởng Disney mở rộng quy mô. Nhưng sau một tranh cãi với nhà phân phối, Disney mất hết quyền hành với Oswald cũng như với hầu hết nhân viên. Walt Disney vẫn không chịu bỏ cuộc, lúc nào trong đầu ông cũng đầy ắp ý tưởng. Ông hiểu rõ, trên phương diện hội họa mình thua xa các họa sĩ làm việc tại xưởng phim. Ông phác thảo sơ lược ý tưởng, rồi mô tả chi tiết bằng lời về nhân vật hoạt hình mà ông muốn thể hiện, từ đó các họa sĩ dưới quyền sẽ định hình. Thành công không phụ những nỗ lực sáng tạo không ngừng của Disney. Năm 1928, Disney bật lên thành công rực rỡ với sự sáng tạo nổi tiếng nhất trong nghề nghiệp của mình: chuột Mickey. Chuột Mickey xuất hiện lần đầu tiên ở Steamboat Willie - vở hoạt hình khớp âm thanh đầu tiên trên thế giới. Ngay từ khi ra đời, chuột Mickey đã được Disney trao cho một sứ mệnh đặc biệt: "Tất cả những gì chúng tôi muốn và mong đợi ở cậu ấy là mọi người sẽ cười khúc khích với cậu và cười khi thấy cậu ta. Chúng tôi không muốn đặt Mickey thành biểu tượng nào cho xã hội. Chúng tôi không làm cậu ta trở thành người phát ngôn cho sự thất bại hay cho sự mỉa mai thô lỗ. Mickey chỉ đơn giản là một nhân vật nhỏ được giao nhiệm vụ mang đến tiếng cười”. Trong khi chuộc Mickey làm mưa làm gió trên thị trường thì Disney tiếp tục cho ra đời loạt phim Silly Symphonies. Do không hài lòng với việc chia sẻ lợi nhuận, Disney ký hợp đồng phân phối mới với hãng Columbia Pictures. Sau đó, Iwwerk bỏ Disney để thành lập phòng chiếu riêng và Disney bắt buộc phải thay thế ông bằng nhiều nhà sản xuất phim khác. Thành công của Disney với chuột Mickey được trao giải thưởng Hàn lâm năm 1932. Danh sách các nhân vật hoạt hình như vịt Donald, Goofy và các nhân vật khác trong loạt phim, đã mang lại thành công lớn. Nhưng Disney vẫn chưa dừng lại, ông tiếp tục chinh phục lĩnh vực phim hoạt hình. Năm 1934, mặc dù cả gia đình và đồng nghiệp đều can ngăn, Disney vẫn theo đuổi việc sản xuất bộ phim dài tập về nàng Bạch Tuyết. Những khoản thu khổng lồ đã chứng minh rằng Disney hoàn toàn đúng. Sau 2 năm và với khoản tiền lớn từ ngân hàng Mỹ, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn vươn lên đứng đầu, trở thành bộ phim hoạt hình thành công nhất năm 1938, và thu được số tiền tương đương 98 triệu đô ngày nay. Xưởng phim Disney tiếp tục bành trướng, cho ra một loạt tác phẩm hoạt hình kinh điển như Pinocchio, Chú nai Bambi và Chú voi biết bay Dumbo. Trong suốt chiến tranh thế giới lần II, hãng cũng được phép sản xuất phim cho quân đội. Cho đến tận cuối những năm 1940, xưởng phim lại gây nên chấn động với những phim động như Hai vạn dặm dưới đáy biển và Bẫy phụ huynh. Không dừng lại ở những bộ phim cổ tích về thế giới chỉ trong tưởng tượng, Disney quyết tâm xây dựng nên một thế giới cổ tích thật sự hiện hữu. "Tại sao lại không thể?" - Disney chợt nghĩ khi đi thăm công viên trẻ em ở Oakland, California. Và ông nghĩ tới một vùng đất trong theo đúng trí tưởng tượng của Disney, với tên gọi Disneyland. 5 năm sau, Disney thành lập Hãng WED để xây dựng công viên ở Anaheim và khai trương vào 18/07/1955. Nhưng công viên đó vẫn chưa làm Disney thật sự thỏa mãn. Tới năm 1964, Disney quyết định tạo ra thế giới Disney, một phiên bản giống như vậy nhưng rộng hơn xứ sở Disney ở Florida. Disneyland đã trở thành một hiện tượng trên toàn cầu. Disney đã làm được một điều thần kỳ, đó là hiện thực hóa các câu chuyện cổ tích. Hiện nay, Disneyland trở thành thiên đường cho không chỉ trẻ em, mà còn với cả người lớn. Còn với riêng cá nhân Walt Disney, Disneyland cũng là một thiên đường mà ở đó, ông đã thỏa mãn được niềm đam mê hoạt hình, và biến nó thành rất nhiều kho vàng...
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
"Nóng vội thường dẫn đến bốc đồng, mà những ai có tính bốc đồng thường ít khi thành công trên thương trường" - Jesse Livermore - nhà buôn tiền vĩ đại những năm 1980 đã đúc rút kinh nghiệm của mình sau nhiều năm tung hoành ở phố Wall.
Jesse Livermore sinh xuất thân trong một gia đình nghèo nên ngay từ nhỏ, ông đã có ý thức làm giàu. Chỉ với vài đôla mẹ cho, Jesse Livermore bỏ nhà lên Boston (Mỹ) để tìm việc. Cậu được nhận vào làm tại công ty chứng khoán Payne Webber và kiếm được 6 đôla một tuần. Nhiệm vụ của Jesse Livermore lúc bấy giờ là ghi giá cổ phiếu trên bảng để thông báo cho các nhà đầu tư. Livermore là một học sinh xuất sắc về môn toán và ông thấy rằng được làm việc trong Phố Wall là sự lựa chọn đúng đắn. Ông có khả năng nhớ giá và những ký hiệu trong máy điện báo khá tốt khi làm ở Payne Weber. Ông bắt đầu ghi những con số vào một cuốn sổ ghi chép và sớm nhận thấy những con số này tuân theo một vài mô hình nhất định. Khi 15 tuổi, ngay tại nơi làm việc, Livermore đã nghiêm túc học mô hình cổ phiếu và sự thay đổi về giá cổ phiếu. Chính quá trình tích lũy này đã giúp ông quan sát cách mọi người tham gia thị trường chứng khoán như thế nào. Ông nhận thấy hầu hết mọi người thua lỗ ở thị trường chứng khoán vì họ đưa ra quyết định giao dịch không theo những nguyên tắc đã đề ra. Họ không nghiên cứu môn học về thị trường và những hoạt động diễn ra trong thị trường chứng khoán trong khi việc nghiên cứu này lại vô cùng cần thiết. Ông đã tiến hành buôn bán chứng khoán lần đầu tiên trong đời cùng với một người bạn. Họ đầu tư toàn bộ số tiền 5 đôla để mua cổ phiếu của Burlington bởi vì bạn của Livermore cho rằng giá cổ phiếu này sẽ tăng. Họ tiến hành giao dịch với một trong những công ty hoạt động chui ở Boston. Đối với những nhà đầu tư có ít tiền thì giao dịch với những công ty này rất hấp dẫn, đơn giản vì họ chỉ đánh cược về xu hướng tiếp theo của cổ phiếu hoặc xu hướng của phiên giao dịch ngắn hạn. Hơn thế nữa, nhà đầu tư vẫn được phép đánh cược xu hướng tăng lên hay giảm đi của cổ phiếu mà không cần phải có giấy chứng nhận có cổ phiếu ở một công ty. Nếu dự đoán chệch 10% so với thực tế thì giao dịch của bạn sẽ không được công nhận. Quy định chỉ cho lệch 10% so với thực tế có hiệu lực tại thời điểm đó và nhờ quy định này mà Livermore đã tự xây dựng cho mình quy tắc giảm thua lỗ triệt để mà sau này ông đã nghiêm túc thực hiện trong sự nghiệp kinh doanh của mình. Trải qua thời gian và kinh nghiệm, ông đã trau dồi được kiến thức và có thể giảm thua lỗ xuống dưới 10%. Nhắc lại vụ đầu tư mua cổ phiếu của Burlington, trước tiên Livermore kiểm tra cuốn sổ ghi chép của mình và ông càng tin tưởng rằng giá cổ phiếu tăng hay giảm dựa trên sơ đồ giao dịch cổ phiếu gần đây. Như vậy, ông đã giao dịch cổ phiếu lần đầu tiên năm 15 tuổi và kết thúc phiên giao dịch này, ông kiếm được số tiền lãi là 3,12 đôla. Ông tiếp tục công việc làm ăn với những công ty hoạt động chui. Khi 16 tuổi, từ việc giao dịch chứng khoán, ông có thể kiếm được số tiền nhiều hơn so với số tiền lương nhận được từ Payne Webber. Khi kiếm được 1.000 đôla, ông bỏ hẳn công việc ở Payne Webber để chính thức chuyển sang giao dịch chứng khoán với những công ty hoạt động chui. Khi 20 tuổi, Livermore kiếm được nhiều tiền đến mức ông bị cấm tham gia giao dịch cổ phiếu ở những công ty hoạt động chui ở Boston và New York, bởi ông đã khiến những công ty này mất đi khoản lợi nhuận của mình. Với thành công này, người ta đã đặt cho ông biệt danh là “Chú bé đầu cơ”. Những ông chủ trong các công ty hoạt động chui không muốn làm việc với ông vì những phiên giao dịch chứng khoán thành công của ông khiến cho họ mất đi nguồn lợi nhuận. Cuối cùng thời điểm của ông đã đến, đây là lúc ông có thể kiểm tra năng lực của mình trong một thị trường giao dịch lớn hơn. Thông qua một công ty môi giới, ông mở một tài khoản với số tiền 2.500 đôla. Số tiền này được trích từ số tiền 10.000 đôla mà ông đã kiếm được khi còn giao dịch kinh doanh với những công ty hoạt động chui.
Do thua lỗ nhiều, Livermore đã rút ra một bài học, đó là công việc kinh doanh không phải lúc nào cũng đơn giản. Chính vì thế, ông bắt đầu nghiên cứu những sai lầm đã mắc khiến ông thua lỗ. Bản phân tích chi tiết những lỗi đã mắc đã giúp ông thành công trên con đường sự nghiệp sau này. Bản phân tích này cũng là một trong những bài học quý báu nhất mà ông đúc kết được. New York không phải là nơi thành công của Livermore. Ông đã bị phá sản chỉ trong sáu tháng, phải vay 500 đôla từ công ty môi giới chứng khoán. Cầm số tiền này trong tay, ông quay trở lại giao dịch chứng khoán với những công ty hoạt động chui với hy vọng rằng mình có thể lấy lại được số tiền ban đầu. Ông nhận thấy những công ty hoạt động chui này niêm yết giá cổ phiếu ngay lập tức trong khi đó Thị trường Chứng khoán New York thường làm các công việc này rất chậm trễ. Tại thời điểm đó, ông thường quen với hệ thống niêm yết giá ngay lập tức và nhanh chóng giao dịch chứng khoán. Sau hai ngày, ông quay trở lại New York với số tiền 2.800 đôla và trả khoản tiền 500 đôla đã vay trước đó. Nhưng khi trở lại New York, ông thấy công việc khó khăn hơn so với dự tính và nhận thấy mình cùng lắm chỉ hòa vốn trên thị trường New York, vì vậy ông quay trở lại giao dịch với những công ty hoạt động chui lần cuối cùng. Chỉ khi Livermore có tới 10.000 đôla trong tài khoản, các công ty hoạt động chui này mới phát hiện ra ông. Một lần nữa, ông bị cấm không được giao dịch chứng khoán với những công ty này. Năm 1901, ông trở lại New York và đây cũng là thời điểm mà cổ phiếu giao dịch được niêm yết trên Thị trường Chứng khoán New York. Trong khi các hoạt động đầu cơ chờ giá lên diễn ra sôi nổi thì nhờ mua cổ phiếu của hãng Northern Pacific, Livermore đã tăng số tiền 10.000 đôla của mình lên 50.000 đôla. Ít lâu sau, ông đầu tư số tiền này với hình thức vay cổ phiếu từ người môi giới với hy vọng mua lại với giá thấp hơn và kiếm được lợi nhuận từ sự chênh lệch này, bởi ông cho rằng thị trường cổ phiếu có thể mất giá trong một thời gian ngắn. Mặc dù ông thua lỗ trong hai phiên giao dịch này nhưng những nhận định ban đầu của ông là đúng. Bởi do có quá nhiều người tham gia giao dịch cổ phiếu này nên việc ông chậm trễ khi đưa ra những quyết định giao dịch đã khiến ông thua lỗ do giá cổ phiếu diễn ra ngược so với những gì ông dự đoán. Từ kinh nghiệm này, ông đã thấy được khó khăn khi giao dịch ngắn hạn trên thị trường chứng khoán. Ông thấy mình phải học cách thích nghi với những môi trường giao dịch khác nhau, từ những giao dịch được thực hiện ngay lập tức ở những công ty hoạt động chui tới những những phiên giao dịch có tổ chức, diễn ra phức tạp hơn nhiều. Mùa xuân năm 1901, Livermore lại bị phá sản một lần nữa. Ông phát hiện một công ty hoạt động chui vừa mới đi vào hoạt động kinh doanh. Ông cho rằng có thể lấy lại được số vốn lúc đầu nếu ông giao dịch với những công ty mới như thế này. Trong vòng gần một năm, ông đã thu hồi được số vốn của mình cho đến khi bị phát hiện và bị cấm hoạt động giao dịch chứng khoán ở đó. Trải qua nhiều lần thua lỗ, Livermore đã đúc kết được rằng con người phải qua những lần thua lỗ thực sự thì mới có thể tìm ra con đường làm ăn kinh doanh phù hợp với mình. Ông vẫn kiên định theo đuổi sự nghiệp và tiếp tục học hỏi rút ra bài học từ và những lần thất bại.
Đây cũng là thời điểm ông khám phá ra yếu tố thời gian. Yếu tố thời gian trong giao dịch cổ phiếu nghĩa là cần phải kiên nhẫn và con đường dẫn tới thành công trong hoạt động kinh doanh cổ phiếu sẽ phải mất nhiều thời gian. Tại phiên giao dịch cổ phiếu của những công ty hoạt động chui, do tính chất mạo hiểm, dễ gặp rủi ro ngay từ khi thành lập và đi vào hoạt động nên thời gian giao dịch thường diễn ra rất nhanh. Ở New York, yếu tố thời gian có nghĩa là việc giao dịch cổ phiếu diễn ra chậm hơn so với những giao dịch ngay tức thì. Sự khác nhau của yếu tố thời gian giữa thị trường chứng khoán chính thức và những công ty chui chính là ở chỗ với công ty chui thường phản ứng nhanh hơn với thị trường. Còn trên thị trường chứng khoán đòi hỏi tính kiên nhẫn và nhờ đức tính này, Livermore đã đạt được nhiều thành công rực rỡ. Yếu tố thời gian cũng giúp ông hiểu rằng con đường dẫn tới thành công trong lĩnh vực đầu cơ cổ phiếu sẽ đến sau một khoảng thời gian nhất định. Thành công không thể một sớm một chiều có được. Livermore nhận thấy rằng sai lầm lớn nhất mà một người mắc phải trên thị trường chứng khoán là thiếu kiên nhẫn. Qua nhiều kinh nghiệm, ông đã học được cách tin tưởng vào khả năng phán đoán của mình. Một chiến thuật quan trọng mà ông thực hiện là mua với số lượng ngày càng nhiều hơn khi giá cổ phiếu này tăng. Livermore chỉ mua cổ phiếu khi ông đã quan sát sự biến động của giá. Nếu giá cổ phiếu tiếp tục tăng thì việc quyết định mua cổ phiếu đó là hoàn toàn có căn cứ. Việc đưa ra những quyết định giao dịch hoàn toàn đúng này đã giúp ông vững tin vào chiến thuật mà mình đưa ra: mua cổ phiếu với số lượng nhiều hơn khi giá cổ phiếu này tiếp tục tăng. Nhờ đó lợi nhuận gia tăng đáng kể khi ông mua một số loại cổ phiếu đặc biệt. Livermore đã sử dụng hai chiến lược trên khi giao dịch những cổ phiếu có kỳ hạn ngắn trên thị trường vào cuối năm 1906 do thị trường đã gặp khó khăn trong việc duy trì sự sôi động trong xu thế giá tăng cao. Ông tiếp tục giao dịch những cổ phiếu có kỳ hạn ngắn bởi vì giá những cổ phiếu yếu tiếp tục giảm. Ông đã giao dịch thành công với loại cổ phiếu này trong giai đoạn đầu khi thị trường có hiện tượng đầu cơ giá hạ vào năm 1907. Chính nhờ những phiên giao dịch thành công này mà năm 31 tuổi ông đã trở thành triệu phú. Năm 1907, trong khi thị trường tài chính bị khủng hoảng, Livermore vẫn kiếm được 3 triệu đôla vì ông ngừng giao dịch những cổ phiếu có kỳ hạn ngắn của mình. Tháng 10/1907, J.P Morgan, người sau này có ảnh hưởng nhất đến tình hình tài chính, đã cứu Phố Wall ra khỏi nguy cơ sụp đổ. Ông này đã can thiệp vào thị trường chứng khoán với khả năng thanh toán bằng tiền mặt cần thiết, giúp thị trường này vẫn tiếp tục đứng vững. Morgan đã gửi một thông điệp cá nhân trực tiếp tới Livermore yêu cầu ông ngừng giao dịch cổ phiếu có kỳ hạn ngắn trên thị trường. Việc J.P. Morgan vĩ đại biết được những hành động giao dịch cổ phiếu của Livermore là một bằng chứng rõ ràng về danh tiếng và ảnh hưởng của nhà kinh doanh tiền - Livermore đã tạo dựng được trên thị trường chứng khoán.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Năm 2001, Kmart với hệ thống hàng chục nghìn cửa hàng bán lẻ đã tuyên bố phá sản, chỉ còn lại một mình "người khổng lồ" Wal-Mart trụ lại. Sở dĩ Wal-Mart có được sự phát triển như ngày hôm nay là nhờ tập đoàn này được chèo chống bởi một nhà kinh doanh tài ba - Sam Walton.
Năm 1962, Sam Walton chỉ là một công nhân làm thuê cho một tiệm giặt là tại thị trấn Bentonville bang Arkansas nước Mỹ. Hằng ngày, người thanh niên 28 tuổi này có nhiệm vụ cùng 3 nhân viên khác đem những món đồ đã được là ủi sạch sẽ trao tận tay cho khách hàng. Khi đó thống trị hệ thống cửa hàng bán lẻ tại Arkansas và các bang lân cận là hai tập đoàn bán lẻ khổng lồ Kmart và Sears. Sau nhiều lần đi giao hàng, trực tiếp "va chạm" với đủ các loại khách hàng, Sam Walton đã phát hiện Kmart và Sears không hề xuất hiện ở các thị trấn nhỏ bé hẻo lánh như thị trấn Benton quê mình. Với phản xạ kinh doanh nhạy bén, Sam Walton lập tức dốc toàn bộ số tiền 150 đôla thuê 8 công nhân và thành lập một cửa hàng bán lẻ lấy tên là Wal-Mart ngay tại thị trấn Bentonville quê ông. Thời gian đầu tiên do vốn liếng ít ỏi, kinh nghiệm thiếu, cửa hàng của Sam chủ yếu kinh doanh buôn sỉ bán lẻ theo phương châm lấy công làm lãi, buôn bán những nhu yếu phẩm cần thiết nhất. Sam Walton đã thu hút số lượng lớn khách hàng trong thị trấn bằng tác phong phục vụ nhiệt tình chu đáo, chất lượng hàng bảo đảm, giá cả phải chăng. Cho tới năm 1965, Wal-Mart đã trở thành một trong những cửa hàng bán lẻ thu hút nhiều khách hàng tại thị trấn Benton. Mặc dù có bước khởi đầu khá thuận lợi nhưng là con người xuất thân từ nông thôn, Walton rất tiết kiệm trong chi phí. Thậm chí khi trở thành một trong số những người giầu nhất nước Mỹ, Sam vẫn là một con người bình dị và khiêm tốn. Dưới tài lãnh đạo của Sam Walton, Wal-Mart đã phát triển rất nhanh chóng và trở thành đối thủ cạnh tranh ngang ngửa với đối thủ Kmart vào đầu thập niên 1970. Hiện nay, hệ thống cửa hàng siêu thị bán lẻ thuộc quyền sở hữu của tập đoàn Wal-Mart đã lên tới hàng chục nghìn chiếc nằm rải rác khắp Bắc Mỹ, châu Âu và tích cực vươn sang châu Á. Quy mô khổng lồ hiện nay của Wal-Mart đã được giới kinh doanh Mỹ thừa nhận. Theo thống kê của Hiệp hội thương mại Mỹ, doanh số bán hàng của Wal-Mart đạt 216 tỷ đôla một năm, vượt qua doanh số bán hàng của hãng điện tử gia dụng nổi tiếng GE và chỉ chịu đứng sau tập đoàn kinh doanh xăng dầu khổng lồ lớn thứ 2 thế giới là Exxon-Mobil. Theo bảng xếp hạng tạp chí danh tiếng Fortune vừa công bố, tập đoàn bán lẻ Wal-Mart lần thứ tư liên tiếp đứng đầu danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới. Wal-Mart ở vị trị số một với doanh số vượt trội 288 tỷ đôla, trong đó lợi nhuận đạt 10,2 tỷ đôla. Suốt từ năm 2002 đến nay, Wal-Mart luôn đứng đầu danh sách Fortune 500 và được xem là “công ty được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ”. Trong danh sách 25 nhà kinh doanh có khả năng làm thay đổi thế giới do hãng CNN và tạp chí Fortune bình chọn và công bố hồi đầu tháng 4 năm 2005, người sáng lập Wal-Mart Sam Walton được xếp thứ 2, chỉ sau Bill Gates, tỷ phú giàu nhất thế giới và là chủ tập đoàn Microsoft. Wal-Mart có doanh thu lớn nhất trong số các công ty bán lẻ trên thế giới, vượt xa công ty đứng thứ nhì là Carrefour. Doanh thu của công ty bán lẻ Pháp này chỉ gần bằng một nửa của Wal-Mart. Hệ thống Wal-Mart gồm hơn 4.688 cửa hàng khắp thế giới, với hơn hai phần ba ở tại nước Mỹ. Ra đời năm 1962 thì đến năm 1979, Wal-Mart lần đầu đạt doanh thu một tỷ đô la một năm. Đến năm 1993, doanh thu đã đạt được con số một tỷ đôla mỗi tuần. Năm 2001, doanh thu mỗi ngày của Wal-Mart đã gần bằng con số ấy. So với thời điểm 1992, Wal-Mart nay lớn hơn gấp năm lần trước đây, tuyển dụng một lượng lao động gấp ba lần hãng General Motors. Chỉ riêng một mặt hàng như bột giặt, mỗi năm Wal-Mart bán được một lượng trị giá 1,4 tỷ đôla. Nếu xem Wal-Mart như một quốc gia thì đây là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Trung Quốc, vượt qua cả Nga và Anh và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 của Trung Quốc (sau Đức). Với giá cả hết sức chặt chẽ và yêu cầu cao đối với nhà phân phối, Wal-Mart đã làm thay đổi phương thức làm ăn kinh doanh của Trung Quốc. Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo rằng với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, trong một thập kỷ nữa, doanh số hằng năm của Wal-Mart có thể vượt 1.000 tỷ đôla. Những số liệu này chỉ một quốc gia mạnh mới có thể có được. Năm 1997, Wal-Mart trở thành tập đoàn thuê nhiều lao động nhất ở Mỹ với gần 570.000 người. Cũng trong năm này, doanh số hàng năm của hãng vượt 100 tỷ đôla. Năm 1999, Wal-Mart trở thành tập đoàn lớn nhất thế giới về nhân sự với 1.140.000 người. Nếu như giai đoạn giữa thế kỷ 20 được xem là kỷ nguyên của hãng sản xuất xe hơi General Motors và giai đoạn cuối thế kỷ 20 là của hãng phần mềm Microsoft thì đầu thế kỷ 21 này rõ ràng đã là của Wal-Mart. Tập đoàn này hiện có 4.688 siêu thị trên toàn thế giới, trong đó 80% là ở Mỹ. Bình quân mỗi ngày có khoảng 20 triệu người đến các siêu thị của Wal-Mart. Tại Mỹ, hơn 80% hộ gia đình mỗi năm mua ít nhất vài sản phẩm từ các cửa hàng của hãng. Khi đứng ra thành lập công ty kinh doanh siêu thị bán hàng giảm giá tối đa Wal-Mart vào năm 1962 tại Bentonville, bang Arkansas, chắc hẳn Sam Walton không ngờ có ngày công ty của ông lại đứng trên cả những đại gia trong các ngành công nghiệp dầu khí (Exxon-Mobil), xe hơi (General Motors, Ford Motors), máy bay (Boeing… và trở thành công ty số một của nền công nghiệp Mỹ và thế giới. Wal-Mart là công ty dịch vụ đầu tiên leo đến vị trí hạng nhất trên danh sách của Fortune (bắt đầu công bố từ năm 1955). Ngoài ra, Wal-Mart cũng hiện diện trong danh sách Fortune 100 công ty được giới lao động Mỹ ưa thích xin vào làm việc nhất. Một trong những tính cách đặc biệt của ông là luôn khuyến khích tinh thần của nhân viên. Như năm 1975, nhân một chuyến công tác tới Hàn Quốc, S.Walton đã cao hứng sáng tác bài hát riêng cho Wal-Mart có tên là “Wal-Mart Cheer” để cổ động tinh thần làm việc của nhân viên cũng như nâng cao tính đoàn kết trong nội bộ. Bài ca vẫn được lưu truyền rộng rãi trong Wal-Mart cho tới ngày nay. Tính đến năm 2005, Wal-Mart có tất cả 1.300.000 công nhân viên trên toàn thế giới, trở thành tập đoàn tư nhân đông nhân viên nhất thế giới. Công thức làm ăn của ông đã được truyền tụng từ đời này sang đời khác là cắt giảm chi phí + giảm giá + dịch vụ tối ưu + khai thác hiệu quả công nghệ thông tin + đảm bảo cuộc sống nhân viên. Toàn bộ bí kíp kinh doanh của gã tỷ phú bán lẻ Sam Walton được gói gọn trong cuốn "Cuộc đời kinh doanh tại Mỹ", do Công ty Alpha Books phát hành. Với Sam Walton “Bí quyết thành công của một người bán lẻ hàng hóa là phải mang lại cho khách hàng những điều mà họ muốn. Nhưng như vậy chưa đủ, để trở thành xuất sắc, khách hàng phải được hưởng nhiều hơn cái họ chờ đợi. Hãy luôn đặt mình vào vị trí của khách hàng để xem họ muốn gì: Hàng hóa chất lượng tốt và phong phú? Giá thành thấp nhất? Độ tin cậy tối đa? Dịch vụ tận tình? Giờ giấc thuận tiện? Nơi đỗ xe miễn phí? Tất nhiên, khi họ thấy yên tâm, họ sẽ tiếp tục tới cửa hàng. Còn ngược lại, cũng sẽ dễ hiểu nếu chúng ta không bao giờ gặp lại những khách hàng không được thỏa mãn nhu cầu”. Dưới bảng hiệu Wal-Mart, có hai dòng chữ sau này trở thành phương cách làm việc nổi tiếng: “Chúng tôi bán với giá thấp hơn” và “Đảm bảo thỏa mãn khách hàng”. Trong cuộc đời kinh doanh sóng gió của mình, Sam vẫn giữ vững phương châm ấy.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Những gương mặt nổi bật trên thương trường thế giới 2007
Những gương mặt nổi bật trên thương trường thế giới 2007
Kinh tế thế giới năm qua đối mặt với cơn bão giá dầu, chấn động trên thị trường tài chính, tiền tệ... Giữa bối cảnh bất ổn đó, có những doanh nhân vẫn gặt hái thành công, trong khi một số người đành gục ngã dù bảng thành tích không hề thua kém ai.
Dưới đây là một số doanh nhân được BusinessWeek đưa vào danh sách bình chọn nhân vật tiêu biểu thế giới năm 2007. Kết quả cuối cùng dự kiến được tạp chí này công bố vào đầu tháng 1/2008. 1. Zoe Cruz - đồng Chủ tịch Morgan Stanley Hôm 1/12 vừa qua, Cruz bất ngờ xin nghỉ hưu, rũ bỏ chức vụ đồng Chủ tịch tập đoàn đầu tư lớn thứ 2 ở Mỹ, sau khi Morgan Stanley công bố thiệt hại 3,7 tỷ USD vì cơn bão cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn. Tuy nhiên, quyết định rút lui này vẫn không thể xóa hết bảng thành tích rạng ngời sau lưng Cruz. 25 năm đóng góp không biết mệt mỏi cho Morgan Stanley, Cruz quả không hổ thẹn khi được ví là ngôi sao tinh tú, người phụ nữ quyền lực nhất phố Wall khi đưa tập đoàn này vượt qua bao sóng gió và gặt hái thành công. Năm ngoái, Cruz được tạp chí Forbes xếp thứ 10 trong danh sách 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới. Trong khi đó, Fortune đưa bà vào vị trí đầu tiên trong danh sách 25 phụ nữ được trả lương cao nhất thế giới, với tổng thu nhập năm 2006 là 30 triệu USD. 2. Jamie Dimon - Chủ tịch kiêm CEO JPMorgan Chase Khi cơn bão tín dụng dưới tiêu chuẩn càn quét qua phố Wall, hầu hết CEO của các ngân hàng lớn đều bị bôi tro trát trấu vào mặt vì những thiệt hại nặng nề gây ra cho tập đoàn. Nhưng với Jamie Dimon, Chủ tịch kiêm CEO JPMorgan Chase, mọi chuyện chưa quá tồi tệ, hoặc thậm chí vẫn tươi đẹp. Dimon về JPMorgan Chase giữa năm 2004, sau khi kinh qua những vị trí cấp cao ở các tập đoàn tài chính lớn như Citigroup hay Bank One (từng là ngân hàng lớn thứ 5 ở Mỹ). Tài quản lý cùng khả năng kiểm soát rủi ro của Dimon ngày càng tỏa sáng, và giúp JPMorgan ít tổn thương trước cơn lốc cho vay thế chấp. Vượt qua khó khăn, đến quý III, JPMorgan lại công bố có lãi và ổn định hoạt động cho vay. Năm ngoái, Dimon được tạp chí Time bầu chọn là một trong 100 người có thế lực nhất hành tinh. Ông cũng đứng thứ 19 trong danh sách 25 sếp nam hưởng lương cao nhất thế giới do Fortune bình chọn, với thu nhập 41,2 triệu USD. 3. Những người đàn ông vàng của Goldman Sachs Trong lúc các đối thủ đau đầu vì nợ xấu trong mảng cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn, Goldman Sachs vẫn đạt doanh thu 12,3 tỷ USD trong quý III, tăng 63% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, CEO đương nhiệm Lloyd Blankfein lại không được nêu tên trong danh sách đề cử những nhân vật nổi bật 2007 của BusinessWeek. Thay vào đó là những bậc tiền bối của ông như cựu CEO John Thain, Robert Rubin, Henry Paulson hay Jon Corzine... Sau thời gian cống hiến và làm rạng danh cho Goldman Sachs, những nhân vật này đều đảm nhận các vị trí quan trọng trong chính quyền. John Thain làm giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán New York, mới đây đã về đầu quân cho Merrill Lynch. Robert Rubin một thời làm Bộ trưởng Tài chính Mỹ, nay là Chủ tịch Citigroup. Còn Henry Paulson cũng vừa rời tập đoàn giữa năm ngoái để trở thành Bộ trưởng Tài chính đương nhiệm của Mỹ. 4. Thế giới người hùng Google Khởi đầu chỉ là một công trình nghiên cứu của 2 chàng trai trẻ Sergey Brin và Larry Page, sau gần một thập kỷ, Google giờ đã trở thành công cụ tìm kiếm khổng lồ, với giá trị thị trường lên đến 100 tỷ USD. Google phát triển đúng hướng cũng nhờ bàn tay tài ba của giám đốc điều hành Eric Schmidt. Tuy nhiên, người ta nói rằng thành công của Google thực sự lên đến đỉnh cao vào năm nay, khi hãng tấn công sang lĩnh vực phần mềm văn phòng, điện thoại Internet và nhiều mảng khác. Thách thức còn rất lớn ở phía trước 3 người lính ngự lâm Sergey Brin, Larry Page và Eric Schmidt, bởi tất cả những thế lực đáng gờm khác như Microsoft đều đang muốn phế truất Google khỏi ngôi vị hiện nay. 5. Diane Greene - CEO VMware Ở tuổi 52, Diane Greene có vẻ hơi "cứng" trong thời buổi tôn sùng những thần đồng về công nghệ mạng. Song những gì bà đã làm để đưa VMware trở thành công ty hàng đầu thế giới về phần mềm ảo hóa trong thời gian ngắn vừa qua quả là đáng nể. Greene cùng chồng sáng lập ra VMware từ năm 1998, sau đó bán lại cho hãng EMC vào năm 2004 với giá 625 triệu USD. Khi công ty sang tay chủ mới, Greene vẫn giữ chức giám đốc điều hành. Tháng 8 vừa qua, VMware chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng và đây được xem là IPO hot nhất trong làng công nghệ thông tin, kể từ sau IPO của Google (tháng 1/2004). Giá cổ phiếu VMware tăng hơn 3 lần kể từ đó tới nay, đưa công ty trở thành hãng phần mềm có mức vốn hóa lớn thứ 4 thế giới, đạt 35 tỷ USD. VMware giờ đây đã trở thành doanh nghiệp phần mềm tăng tốc nhanh nhất và có tầm ảnh hưởng nhất trong thung lũng Silicon. 6. Tỷ phú tài chính Mỹ Carl Icahn Từ cuối năm ngoái tới nay, lão tỷ phú giàu thứ 18 ở Mỹ với số tài sản 14,5 tỷ USD, xuất hiện thường xuyên hơn trong các thương vụ đầu tư tài chính đình đám ở Mỹ. Khởi sự ở phố Wall năm 1961, 7 năm sau, ông lập công ty chứng khoán mang tên mình, Icahn, tập trung vào những danh mục đầy rủi ro và nghiệp vụ chứng khoán phái sinh. Đến 1978, ông bắt đầu hoạt động mua thâu tóm một số công ty nhỏ. Giờ đây, Carl Icahn nắm giữ cổ phần chi phối hoặc quyền kiểm soát ở gần 30 công ty khác nhau. Nổi danh vì dám đấu tranh cho quyền lợi của cổ đông trong các tập đoàn, năm nay Icahn đã buộc Time Warner phải xì tiền nhiều hơn cho các nhà đầu tư. Ông cũng tạo áp lực buộc Motorola cải tổ bộ máy sau hàng loạt thua lỗ. 7. Steve Jobs - CEO Apple Với vị giám đốc điều hành Apple, 2007 quả là năm nhiều cảm xúc. Nhà đầu tư hiển nhiên phải yêu mến Jobs, bởi ông đã làm cho cổ phiếu Apple tăng giá 100%. Khách hàng thì được hưởng đợt siêu giảm giá iPhone, với mức giảm lên đến 200 USD chỉ sau vài tuần ra mắt. Nhưng với giới âm nhạc và các quan chức Hollywood, Jobs là kẻ làm loạn, khiến các tác phẩm điện ảnh và nhạc phẩm trở nên rẻ như bèo. Thậm chí sếp bự của NBC Universal, Jeff Zucker còn công khai chỉ trích Jobs đã hóa hủy ngành kinh doanh âm nhạc. Mới đây, Steve Jobs được tạp chí Fortune bầu chọn là doanh nhân quyền lực nhất thế giới năm 2007. 8. Trùm truyền thông Rupert Murdoch Tài phiệt gốc Áo đã có một năm kinh doanh viên mãn. Sau khi đã nuốt chửng The Wall Street Journal, mạng lưới truyền hình Big Three, Murdoch đang định vươn tới nhiều tập đoàn truyền thông khác. 9. Tỷ phú Mexico Carlos Slim Năm nay, nhà tài phiệt 67 tuổi này đã trở thành người đàn ông giàu nhất thế giới, truất ngôi vị mà Bill Gates giữ vững nhiều năm qua. Khối tài sản của ông ngày càng phình to, nay đã đạt 68 tỷ USD, do công ty ông chiếm vị thế độc quyền trong lĩnh vực viễn thông ở Mexico. 10. Ratan Tata - Chủ tịch tập đoàn Tata của Ấn Độ Thành công của đế chế khổng lồ Tata năm nay được xem như nguồn cảm hứng chung cho giới doanh nhân Ấn Độ. Tata vừa mua lại hãng thép Hà Lan Anglo-Dutch với giá 12 tỷ USD. Đây cũng là thương vụ mua bán sáp nhập doanh nghiệp lớn nhất được thực hiện bởi một công ty của Ấn Độ. Dưới bàn tay chèo lái của vị Chủ tịch Ratan Tata, tập đoàn giờ đã lớn mạnh với mức vốn hóa 21 tỷ USD. Tata đang dự định mua lại hai thương hiệu xe hơi Jaguar và Land Rover. Dự kiến sang năm, Tata sẽ làm cả thế giới chấn động khi sản xuất hàng loạt loại xe giá siêu rẻ, 2.500 USD.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Năm 1991, khi Chính phủ Ấn Độ áp dụng chính sách phát triển hàng không mang tên Open Skies Policy, Naresh Goyal đã trở thành người tiên phong biến chính sách này thành hiện thực khi thành lập hãng hàng không Jet Airways.
Trải qua nhiều năm tháng đưa Jet Airways đi hết thành công này tới thành công khác, Naresh Goyal góp phần to lớn vào phát triển ngành công nghiệp hàng không của Ấn Độ, đồng thời ghi tên mình vào bản danh sách những doanh nhân giàu nhất thế giới với số tài sản cá nhân trị giá 1,3 tỷ USD. Thông qua những chương trình hợp tác mở rộng khai thác thị trường hàng không với các đối tác nước ngoài, Jet Airways dần khẳng định được vị trí và sau đó vươn lên thành một thế lực hùng mạnh trong lĩnh vực hàng không Ấn Độ và khu vực. Sở hữu các loại máy bay hiện đại từ Boeing 737, 777, 787..., tới nay, Jet Airways đang khai thác trên 44 đường bay nội địa và 8 đường bay quốc tế, đảm bảo phục vụ hành khách số lượng 330 chuyến bay mỗi ngày tới 50 tỉnh thành trong nước và 5 điểm ở ngoài nước, tổng thu nhập hãng lên tới hàng chục tỷ đôla mỗi năm. Làm việc để học tập kinh nghiệm thực tế Sinh năm 1949 trong một gia đình nghèo tại Ấn Độ, trong những năm thập niên 50, đất nước Ấn Độ vẫn là một quốc gia nông nghiệp lạc hậu, bố mẹ Naresh Goyal chỉ là những nông dân thuần tuý, thu nhập của cả gia đình chủ yếu dựa vào đồng ruộng. Có lẽ do quá vất vả, bố của Naresh Goyal đã bị bệnh nặng và qua đời khi cậu mới tròn 10 tuổi. Sự kiện này làm cho cuộc sống của cả gia đình vốn đã vất vả lại càng thêm vất vả hơn, và từ đây Naresh Goyal cũng phải chịu cuộc sống mồ côi và thiếu sự dạy dỗ của người cha. Tốt nghiệp trung học, Naresh Goyal thi đỗ vào trường đại học thương mại. Trong 4 năm học tập, ngoài thời gian học tập trên lớp, Naresh Goyal dành hầu hết thời gian vào nghiên cứu các loại sách liên quan tới lĩnh vực kinh doanh và thương mại. Năm 1967, tốt nghiệp đại học loại giỏi, Naresh Goyal xin vào làm việc cho công ty chi nhánh của hãng hàng không Lebanese International Airlines với mức lương tương đương 25 USD/tháng. Dù hoạt động chính là dịch vụ hàng không nhưng bằng những nỗ lực của người chú, công ty đã mở rộng hoạt động sang cả lĩnh vực giải trí và nắm trong tay một số rạp chiếu phim và rạp hát. Vốn ham học hỏi, thông minh cộng thêm sự nhiệt tình trong công việc, một thời gian sau khi vào làm tại công ty, Naresh Goyal được chuyển tới làm công tác quản lý kiêm kế toán ở một số rạp hát và rạp chiếu phim. Tiếp xúc với môi trường công việc hoàn toàn mới mẻ, Naresh Goyal phải vừa làm vừa học tập từ mảng marketing tới các khâu chi tiêu tài chính. Bằng cách thức điều hành chặt chẽ, các chi nhánh do Naresh Goyal điều hành đã thực sự phát huy được hiệu quả và mang về cho công ty nhiều khoản lợi nhuận ổn định. Càng đi sâu kinh doanh thực tế, Naresh Goyal càng bị cuốn hút đồng thời cũng thấy được những khoảng trống trong kiến thức và kinh nghiệm của mình. Do đó, Naresh Goyal xin chuyển sang làm tại bộ phận dịch vụ hàng không. Một thời gian sau, Naresh Goyal được chuyển tới làm việc tại trụ sở chính của Lebanese International Airlines. Trong thời điểm này, công ty đã mở rộng mạng lưới phân phối dịch vụ tại một số quốc gia trong khu vực nên từ khi chuyển sang công việc mới, Naresh Goyal thường xuyên có điều kiện thực hiện các chuyến công cán sang nhiều quốc gia. Đảm nhiệm công việc phát triển được các loại hình dịch vụ của công ty sang các thị trường mới đồng thời thiết lập được quan hệ hợp tác với các hãng hàng không. Với tinh thần ham học hỏi và năng khiếu kinh doanh trời phú, Naresh Goyal hoàn thành nhiệm vụ ngoài sức mong đợi. Hàng loạt các đầu mối liên kết với các hãng hàng không lớn của các quốc gia đã trở thành đối tác của Lebanese International Airlines. Nhà quản lý tài năng Từ những thành công đã mang lại cho Lebanese International Airlines, Naresh Goyal được đảm nhận vị trí người quản lý. Bắt đầu từ thời điểm này tên tuổi của cá nhân Naresh Goyal được nhiều hãng hàng không khác biết đến. Hướng tới mục tiêu mở rộng thị trường sang các quốc gia và khu vực, nhiều hãng hàng không đang cần những nhà quản lý tài năng và có thâm niên kinh nghiệm thực tế như Naresh Goyal. Lần lượt Naresh Goyal được mời đảm nhận vị trí nhà quản lý cho Gulf Aire, Kuwaiti, Royal Jordanian Airlines, Middle Eastern Airline và Phillippines Airlines. Tại các vị trí công việc đó, Naresh Goyal đều đưa ra và tiến hành thành công nhiều chiến lược kinh doanh, mang lại nhiều nguồn lợi doanh nghiệp. Tới những năm thập niên 70, ngành dịch vụ hàng không quốc tế bước vào giai đoạn phát triển nhanh, tuy nhiên, tại đất nước Ấn Độ - một thị trường đầy tiềm năng, lĩnh vực này vẫn còn chưa có được sự phát triển tương xứng. Từ những đánh giá cụ thể của mình, Naresh Goyal quyết định xây dựng doanh nghiệp tư nhân khai thác thị trường Ấn Độ sau đó sẽ mở rộng sang khai thác tại thị trường các nước. Năm 1974, Naresh Goyal thành lập Công ty dịch vụ hàng không Jetair Limited. Là một doanh nghiệp mới, trong giai đoạn đầu, Naresh Goyal chủ yếu hướng Jetaire Limited vào liên kết, phát triển dịch vụ với các hãng hàng không ngoại quốc. Thông qua các mối quan hệ sau một thời gian dài làm việc trong lĩnh vực hàng không, Jetair Limited tìm kiếm được nhiều bản hợp đồng nhận đại diện quảng cáo, phân phối cho hãng hàng không Air France, Austrian Airlines và Cathay Pacific tại Ấn Độ. Mặc dù đứng đầu công ty song bên cạnh việc hoạch định ra các chương trình phát triển hệ thống phân phối dịch vụ chung cho doanh nghiệp, Naresh Goyal còn phải trực tiếp tham gia vào công việc bình thường như đặt vé, xuất vé, bán vé và marketing...Dựa trên những kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu sau nhiều năm tích luỹ được, Naresh Goyal luôn cố gắng dành thời gian hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên những nội dung kiến thức cơ bản của ngành dịch vụ hàng không. Đặc biệt, được sinh ra và lớn lên tại quê hương Ấn Độ, vốn hiểu biết của Naresh Goyal về thị trường cũng như nguồn khách đã trở thành một thế mạnh riêng biệt của Jetair Limited. Từ đầu mối Jetair Limited, Air France, Austrian Airlines và Cathay Pacific dần tạo được chỗ đứng và uy tín vững chắc tại Ấn Độ.
Sau 17 năm thành lập Jetair Limited, năm 1991, cơ hội ngàn năm có một đã đến với Naresh Goyal khi chính phủ ban hành chính sách phát triển ngành dịch vụ hàng không Open Skies Policy, theo đó, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư mở rộng hoạt động. Dồn tất cả các nguồn lực hiện có trong tay, Naresh Goyal thành lập nên Công ty hàng không mang tên Jet Airways. Thấy được những khó khăn trong môi trường kinh doanh mới với sức ép cạnh tranh rất lớn từ các hãng hàng không quốc tế trên thị trường Ấn Độ nên công việc xây dựng kế hoạch ngay từ ban đầu được hết sức coi trọng. Đích đầu tiên trong kế hoạch phát triển Jet Airways là từng bước ổn định và khuyếch trương hoạt động chiếm lĩnh thị trường nội địa. Từ một số lượng nhỏ thế hệ máy bay Boeing 737, Naresh Goyal tiến hành chương trình liên kết phát triển và khai thác một số đường bay nội địa mới với Hãng hàng không Gulf Air. Tổng số lượng máy bay đưa vào hoạt động đã tăng lên đến gần 50 chiếc. Dựa trên thế mạnh về khả năng hiểu biết thị trường, các chương trình marketing mở rộng cộng thêm những ưu thế về phương tiện, trang thiết bị của Gulf Air, Naresh Goyal nhanh chóng thiết lập được các đường bay mới cho riêng Jet Airways. Nhằm tạo uy tín trước khách hàng và sự vượt trội về chất lượng trước các đối thủ, Naresh Goyal tranh thủ thời gian tham gia trên các chuyến bay của hãng, sử dụng thử các dịch vụ từ đồ ăn, đồ uống, thậm chí cả nhà các công trình vệ sinh trên máy bay, theo dõi cung cách, thái độ phục vụ của nhân viên sau đó tham khảo ý kiến đóng góp phản hồi của khách hàng và đưa vào điều chỉnh. Nhờ những bước đi đó, số lượng khách sử dụng dịch vụ của Jet Airways trong 2 năm đầu tiên đã đạt con số 730.000 người. Trên đà phát nhanh của Jet Airways, Naresh Goyal tiếp tục ký kết bản hợp đồng liên kết với Hãng hàng không Air Sahara để cùng hướng tới chương trình vươn ra thị trường các nước trong và ngoài khu vực. Tới năm 2006, sau nhiều năm hợp tác, Jet Airways đã mua đứt Air Sahara với mức giá chuyển nhượng 500 triệu USD.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt của Mỹ với muôn vàn khó khăn đan xen, không ít những cơ hội đầu tư thì chỉ những doanh nhân thực sự tài năng mới có thể vươn tới đỉnh vinh quang của sự nghiệp. Và Kenneth G. Langone là một trong số những mẫu doanh nhân như vậy.
Sau đúng 5 thập kỷ trên thương trường, tới năm 2007, Kenneth G. Langone trở thành một trong những doanh nhân thành đạt nhất thế giới với số tài sản cá nhân khoảng 1,1 tỷ USD, xếp thứ 689 trong bản danh sách do Tạp chí Forbes bầu chọn.
Tại phố Wall Street nổi tiếng thế giới, hàng loạt chương trình đầu tư từ nhỏ tới lớn vào nhiều doanh nghiệp New York Stock Exchange, Yum! Brands... được Kenneth Langone tiến hành thành công. Đặc biệt, đảm nhiệm vai trò cung cấp tài chính, Kenneth Langone chính là một trong những nhân tố quyết định sự ra đời của Tập đoàn bán lẻ Home Depot.
Hiện nay, với tổng thu nhập 90,837 tỷ USD và lợi nhuận khoảng 5,761 tỷ USD, sử dụng 355.000 nhân công, tầm hoạt động lan tỏa từ 50 bang của Mỹ sang cả Canada, Mêhicô, Trung Quốc, Home Depot hàng năm mang lại cho Kenneth Langone những khoản lợi nhuận khổng lồ.
Tinh thần cần cù, sáng tạo
Kenneth Langone sinh năm 1935 trong một gia đình người Italia nhập cư tại Thành phố Roslyn Heights, New York, cách Manhattan khoảng 20 dặm về phía Đông. Cuộc sống gia đình khó khăn, không cần phải có sự chỉ bảo của bố mẹ, Kenneth Langone tự mình kiếm tiền bằng cách mua một số đồ dùng lặt vặt sau đó mang đi bán rong để kiếm lời.
Công việc bán hàng rong không có gì đặc biệt nhưng Kenneth Langone lại luôn cảm thấy tự tin với những gì đã làm được. Những năm học phổ thông, kinh tế gia đình khó khăn đến mức những dụng cụ học tập bình thường cũng thiếu cộng thêm phải vừa học vừa đi bán hàng nhưng kết quả học tập của Kenneth Langone luôn đạt rất cao.
Tốt nghiệp trung học, Kenneth Langone thi đỗ ngay vào Khoa kinh tế tại trường Đại học Bucknell University. Trong những năm tháng học đại học, ngoài giờ học trên lớp, Kenneth Langone dành trọn thời gian nghỉ của mình, kể cả ngày chủ nhật để đi làm thêm. Theo như lời kể của chính Kenneth Langone thì ông đã từng làm nhân viên phục vụ trong quán trà và thậm chí là nhân viên bán hàng tại cửa hiệu bán thịt lợn.
Năm 1957, sau 3 năm rưỡi học tại Đại học Bucknell University, Kenneth Langone tốt nghiệp với kết quả trung bình đạt loại giỏi. Kenneth Langone dự định sẽ tìm việc làm để kiếm tiền tiếp tục học chương trình sau đại học, tuy nhiên, theo luật nghĩa vụ quân sự Kenneth Langone đã phải nhập ngũ và trải qua hai năm huấn luyện.
Trở về địa phương, Kenneth Langone được nhận vào làm nhân viên tại Công ty bảo hiểm Equitable Life Assurance Company với mức lương khá cao.
Bằng tinh thần cầu tiến, Kenneth Langone tiếp tục thi đỗ vào học chương trình MBA của trường New York University. Do chương trình học diễn ra vào bốn buổi tối trong tuần nên ban ngày Kenneth Langone vẫn có đủ thời gian làm việc tại công ty. Kenneth Langone chính là thành viên đầu tiên trong gia đình hoàn thành được chương trình MBA.
Thành công và thất bại trong đầu tư
Năm 1961, tốt nghiệp loại ưu chương trình MBA, đây có thể coi là thời kỳ hưng thịnh của phố Wall, các loại hình đầu tư bùng phát cùng với sự tham gia của hàng loạt những doanh nghiệp danh tiếng hàng đầu thế giới đã tạo sức hút mạnh mẽ đối với Kenneth Langone. Rất tự tin và có phần táo bạo, Kenneth Langone quyết định chọn đây là điểm khởi nghiệp.
Kenneth Langone ngay lập tức được nhận vào làm việc cho Công ty môi giới R. W. Pressprich & Co., Inc. Đây là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực môi giới và đang đạt mức tăng trưởng cao. Được làm đúng chuyên ngành đào tạo cộng thêm tinh thần nhiệt tình với công việc, Kenneth Langone nhanh chóng bắt nhịp được với các hoạt động của công ty.
Thông qua những sáng kiến mang lại nhiều khoản lợi lớn cho công ty, Kenneth Langone được đề bạt lên vị trí Phó giám đốc điều hành của R. W. Pressprich & Co., Inc. Ở vị trí chuyên phụ trách mảng tài chính cho toàn bộ doanh nghiệp, Kenneth Langone sử dụng hệ thống truyền dữ liệu điện tử của Ross Perot để thực hiện thành công các phiên đấu giá phát hành cổ phiếu cho công ty. Năm 1968, với hiệu quả khai thác cao, hệ thống này đã được Ross Perot chuyển nhượng cho hãng xe hơi General Motors.
Trên con đường chinh phục đỉnh vinh quang, Kenneth Langone từng phải trải qua những bài học thất bại. Đó là trường hợp sau khi rời R. W. Pressprich & Co., Inc, Kenneth Langone được mời tới đảm nhiệm vị trí quản lý người quản lý kiêm nhà đầu tư vào doanh nghiệp tài chính Stirling Homex Corp. Doanh nghiệp này thuộc quyền sở hữu của anh em Stirling.
Kenneth Langone bắt đầu công việc bằng tất cả lòng nhiệt tình cũng như những kinh nghiệm của bản thân, tuy nhiên, do sự hợp tác thiếu tính nghiêm túc của anh em Stirling, hầu hết các chương trình hợp tác và thu hút đầu tư của doanh nghiệp do Kenneth Langone khởi sướng đều bị đổ vỡ. Đây có thể coi là một trong những thất bại nặng nề nhất trong sự nghiệp của Kenneth Langone.
Từ sự kiện đó, Kenneth Langone đã rút ra được bài học kinh nghiệm, một triết lí sâu sắc cho những thương vụ sau này: “Vấn đề then chốt đối với một chương trình đầu tư vào ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính là các nguyên tắc phải được đạt lên trước những khái niệm và phải đặc biệt chú ý tới các con số ước định trong các bản hợp đồng”. Rời Stirling Homex Corp, Kenneth Langone quyết định nghiên cứu khả năng của một số doanh nghiệp và dồn tất cả các khoản tài chính vào đầu tư.
Rút ra được những bài học quý báu trước đây, trước khởi động các chương trình đầu tư, Kenneth Langone đều dành một khoảng thời gian để nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ về các doanh nghiệp. Trong những năm sau đó, hàng loạt các chương trình đầu tư thành công đã được Kenneth Langone tiến hành thành công. Đầu tiên là chương trình đầu tư vào doanh nghiệp môi giới đầu tư ngân hàng Park Avenue và doanh nghiệp Invemed Associates.
Đối với 2 doanh nghiệp này, bên cạnh những khoản tài chính lớn, trên cương vị là một trong những thành viên trong ban lãnh đạo, Kenneth Langone còn đưa ra được những kế hoạch phát triển và khai thác thị trường sang nhiều lĩnh vực khác nhau từ lĩnh vực y tế, cung cấp trang thiết bị y tế cho tới lĩnh vực hàng dệt may. Một mạng lưới các bạn hàng quen thuộc nhanh chóng được thiết lập như Ivac, Eli Lily & Co, Unifi...
Cùng với thành công chung của doanh nghiệp, Kenneth Langone vừa khẳng định được vị trí là nhà điều hành chiến lược không thể thiếu của doanh nghiệp vừa thu được những khoản lợi nhuận hàng triệu USD.
Đồng sáng lập Tập đoàn bán lẻ Home Depot
Phát hiện thấy lĩnh vực bán lẻ đang có những triển vọng phát triển rất lớn, trong những năm nửa cuối thập niên 70, Kenneth Langone tính ngay tới việc dồn vốn tìm đối tác thành lập lên một doanh nghiệp bán lẻ. Năm 1978, giữ vai trò là người cung cấp vốn chủ yếu, Kenneth Langone cùng với Bernie Marcus, Arthur Blank, Ron Brill, Pat Farrah thành lập lên Công ty Home Depot đặt tại Atlanta, Georgia, Mỹ.
Trên cơ sở hàng loạt những kho chứa hàng lớn cùng những trang thiết bị bốc dỡ hàng hiện đại, Home Depot vừa đáp ứng được nhu cầu về dịch vụ gửi và bốc dỡ hàng của rất nhiều các doanh nghiệp vừa trở thành một đầu mối trung tâm bán lẻ lớn tại Mỹ. Theo thời gian, quy mô của doanh nghiệp ngày một lớn, lĩnh vực hoạt động ngày càng đa dạng từ cung cấp dịch vụ lưu trữ hàng, bán lẻ các loại đồ ăn nhanh đến xăng dầu...
Hiện nay, Home Depot đã xây dựng được một mạng lưới các chi nhánh hoạt động tại 50 bang trên nước Mỹ. Hoạt động theo khẩu hiệu “bạn làm, chúng tôi giúp”, tính tới năm 2006, tổng thu nhập là 90,837 tỷ USD, lợi nhuận khoảng 5,761 tỷ USD và sử dụng 355.000 nhân công, Home Depot trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực bán lẻ tại Mỹ.
Trên đà phát triển bùng nổ, thương hiệu Home Depot vươn ra một số quốc gia trong và ngoài khu vực châu Mỹ như Canada, Mêhicô, Trung Quốc và đảo Guam. Riêng tại Canađa, chi nhánh Home Depot Canada thiết lập được một mạng lưới 159 đầu mối phân phối sản phẩm, sử dụng 30.000 nhân công và là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của hãng bán lẻ bản địa Rona và Lowe's.
Nhằm mục đích quảng cáo cho thương hiệu, Kenneth Langone còn giúp Home Depot ký kết được nhiều bản hợp đồng tài trợ cho các câu lạc bộ bóng đá của Mỹ như Los Angeles Galaxy, Chivas USA, Los Angeles Riptide... Đặc biệt, là các chương trình tài trợ kinh phí, dụng cụ thể thao cho các đội tuyển tham dự nhiều kỳ Thế vận hội Olympic của Mỹ và Canada. Là một trong những cổ đông lớn nhất và cũng là một thành viên trong ban lãnh đạo, trên đà phát triển mạnh của tập đoàn, hàng năm Kenneth Langone được hưởng nhiều khoản lợi nhuận lớn từ Home Depot.
Bên cạnh hàng loạt những chương trình đầu tư kinh doanh, với tài năng, kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lí và marketing của mình, Kenneth Langone còn được mời đảm nhiệm không ít chức vụ quan trọng cho nhiều công ty, tập đoàn kinh tế và cả các trường đại học danh tiếng tại Mỹ. Trong đó phải kể tới vị trí thành viên Hội đồng quản trị của ChoicePoint, General Electric, New York Stock Exchange, Unifi, Yum! Brands. Thành viên ban giám hiệu của nhiều trường như Bucknell University, New York University, Stern School of Business...
Là một người luôn coi trọng học vấn, trong suốt chặng đường kinh doanh của mình, Kenneth Langone luôn dành nhiều tình cảm cũng như những khoản tài chính lớn cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ. Từ số tài sản cá nhân trị giá hơn 1 tỷ USD, Kenneth Langone xây dựng lên quỹ học bổng The Langone Program đặt tại trường New York University.
Thông qua The Langone Program, Kenneth Langone từng tài trợ cho trường khoản tiền khổng lồ 6,5 triệu USD để xây dựng lên nhiều chương trình học chuyên sâu về kinh tế, cung cấp được hàng nghìn xuất học bổng cho sinh viên.
Bằng những đóng góp to lớn đó, Kenneth Langone đã vinh dự được nhận Huân chương Albert Gallatin Medal danh giá nhất của trường New York University năm 1999.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Philip Knight - Con người quyền lực nhất trong giới thể thao
Philip Knight - Con người quyền lực nhất trong giới thể thao
Chưa bao giờ chơi thể thao chuyên nghiệp, cũng chưa từng sở hữu một câu lạc bộ, nhưng tạp chí nổi tiếng Sports Illustrated lại phong danh hiệu "người quyền lực nhất trong giới thể thao" cho Philip Knight.
Từ một ý tưởng trong bài luận văn, Knight đã biến nó thành nhà cung cấp trang phục thể thao lớn nhất thế giới. Ông đã "phù phép" cho thương hiệu Nike - tên nữ thần chiến thắng của Hy Lạp - ngự trị khắp nơi.Thắng lợi và vinh quang mở ra trước mắt Knight sau câu thần chú: "Just do it" - "Hãy làm những điều bạn muốn".
"A, nghĩ ra rồi!" Sinh ngày 24/2/1938 ở Portland, Oregon, Philip H. Knight phát hiện ra niềm yêu thích chạy bộ của mình khi còn rất nhỏ và là một thành viên của đội điền kinh ở trường trung học Cleveland. Sau đó Knight học lên Đại học Oregon.
Kinh nghiệm của Knight ở trường Đại học Oregon đã mang lại những thay đổi trong cuộc đời ông, bởi ở đó, ông đã được gặp và được đào tạo bởi huấn luyện viên huyền thoại Bill Bowerman.
Trong suốt 24 năm làm huấn luyện viên, dưới sự dẫn dắt của Bowerman, chỉ có một mùa giải là đội của Oregon không giành chiến thắng. Tên hiệu của Knight là Buck và dù nổi tiếng vì sự nhiệt tình hơn là vì khả năng chạy tự nhiên, Knight nhanh chóng kết bạn với Bowerman. Knight là người mang thử nghiệm các đôi giày do Bowerman chế tạo. "Tôi nhận thức rất rõ về tầm quan trọng của đôi giày khi tôi ở trên đường chạy", Knight nhớ lại. Giày Mỹ là các nhánh của các công ty lốp xe" - Knight nói. "Giày giá 5 đô, và bạn có thể trở về từ đường chạy 5 dặm với bàn chân rỉ máu. Sau đó các công ty của Đức xuất hiện với những đôi giày 30 đô, mà có vẻ dễ chịu hơn".
Tuy nhiên, Bowerman vẫn không hài lòng. "Ông tin rằng giảm đi một khối lượng chỉ khoảng 30 gam thôi cho một đôi giày thì đã tạo ra rất nhiều khác biệt cho một người chạy một dặm rồi", Knight nói. "Vì thế, Bowerman bắt đầu tự làm ra giày riêng, và vì tôi không phải là người xuất sắc nhất trong nhóm, nên việc tôi được thử nghiệm những đôi giày này là rất hợp lý". Năm 1959, Knight tốt nghiệp đại học Oregon với bằng về lĩnh vực báo chí. Cũng giống như một sinh viên bình thường, sau khi tốt nghiệp không biết phải làm gì, Knight tham gia vào quân đội. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ 1 năm, Knight quyết định học Trường đào tạo Kinh doanh ở Đại học Standford. Đó là một quyết định đã thay đổi cuộc đời ông. Ở Standford, Knight thực sự bắt đầu thích các trường học và học về những thứ khác ngoài thể thao. Có một khóa học đặc biệt mà ông rất thích là lớp học kinh doanh nhỏ của Frank Shallenberger. Frank Shallenberger đã cho sinh viên một bài tập, trong đó họ phải mở ra một doanh nghiệp mới, mô tả mục đích của nó và tạo ra các kế hoạch kinh doanh. Bài của Knight có tên gọi: "Giày thể thao của Nhật Bản có thể làm gì với giày thể thao của Đức, giống như máy ảnh của Nhật đã làm với máy ảnh của Đức?", trong đó, Knight phát triển một kế hoạch cho những đôi giày điền kinh cao cấp, mà có thể được sản xuất với giá rẻ tại Nhật Bản.
"Lớp học đối với tôi khi đó là giây phút đó "A, nghĩ ra rồi"" - Knight nhớ lại. Shallenberger định nghĩa kiểu người được xem là một doanh nhân, và tôi nhận ra rằng ông ấy đang nói với tôi. Tôi nhớ sau khi viết bài luận đó, tôi nói với chính mình rằng: "Đây thực sự là điều mà mình muốn làm". Dù phát hiện ra điều hối thúc mình, Knight vẫn không phản đối mong ước của bố và đảm nhận một công việc thực sự tại hãng kế toán ở Portland sau khi tốt nghiệp Stanford. Nhưng ông không ở đó lâu rồi nhanh chóng đến Nhật để thay đổi mọi thứ.
Từng bước tiến đến vị trí hàng đầu Năm 1962, Knight quyết định biến ý định của mình thành hiện thực. Ông không muốn ý tưởng kinh doanh của mình bị phai nhạt trong tòa nhà của Standford. Ông bị thuyết phục là có thể đi xa trong kế hoạch nhập khẩu giày giá rẻ nhưng chất lượng tốt từ Nhật Bản, và ông sẽ không bỏ ý định đó cho đến khi ông đã thử. Knight đến Nhật Bản và thăm nhà máy giày Onitsuka ở Kobe, nơi sản xuất giày thể thao Adidas có tên gọi Tigers. Bị ấn tượng với những đôi giày chất lượng cao và chi phí sản xuất thấp, Knight ngay lập thức thương lượng với Onitsuka để phân phối Tigers ở Mỹ. Trở về sau chuyến đi Nhật bản, Knight quyết định liên hệ với người bạn tốt, đồng thời là huấn luyện viên điền kinh ở đại học Oregon - Bill Bowerman, để thảo luận về ý tưởng kinh doanh của mình. Bowerman thích thú với ý tưởng này và mỗi người đã đầu tư 500 đô và sử dụng nó để mua giày Tiger của Nhật. Họ thành lập công ty Blue Ribbon Sports và chuẩn bị bán sản phẩm của họ.
Ở tuổi 26, Knight bắt đầu bán giày trong lúc vẫn đi làm kế toán. Năm 1971, khi công việc quá thành công đến nỗi ông bị cuốn vào việc kinh doanh giày toàn bộ thời gian. Trong những năm đầu, Blue Ribbon Sports bán những đôi giày điền kinh Nhật Bản có giá 364 đô, cuối thập kỷ đó, doanh số bán hàng đã tăng vọt, đến hơn 1 tỉ đô, Knight và Bowerman đã thực sự lao vào thương trường. Năm 1972, Knight quyết định rằng công ty của ông cần có tên và biểu tượng mới. Knight thích cái tên Dimension Six, nhưng 45 nhân viên của ông thì không thích tên này. Sau đó, một trong số nhân viên bán hàng của công ty là Jeff Johnson gợi ý ra cái tên Nike - nữ thần chiến thắng trong thần thoại của Hy Lạp. Tình cờ như một giấc mơ, và nó chứng tỏ một quyết định đáng mơ ước cho công ty. Knight cũng đã trả 35 đô cho lô gô mới - dấu "xác nhận đã làm", và bản thiết kế mới này lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng vào năm 1972 tại Olympic ở Eugene Oregon. Năm 1972, Knight đã bán được một số giày mang nhãn hiệu Nike, thu được 3,2 triệu đô. Từ đó, lợi nhuận của Nike liên tục tăng, mỗi năm lại tăng gấp đôi so với năm trước, và trong suốt 10 năm như thế. Đúng với tầm nhìn của Knight, Nike đã vượt qua Adidas, trở thành hãng dẫn đầu ở Mỹ. Cùng năm này, công ty bắt đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán. Năm 1984, Nike ký hợp đồng với Michael Jordan - lúc ấy là vận động viên trẻ đang lên của đội Chicago Bulls - để quảng cáo loại giày bóng rổ mang tên Air Jordan. Rồi Michael Jordan trở thành thần tượng của giới trẻ Mỹ; giày Air Jordan cũng trở thành một phần không thể thiếu trong trang phục của thanh thiếu niên Mỹ. Nike trở thành một trong những thương hiệu được thừa nhận và nổi tiếng trên toàn thế giới. Năm 2004, Knight thôi chức CEO và Chủ tịch của Nike, nhưng ông vẫn là Chủ tịch hội đồng quản trị và duy trì quyền lực định hướng đằng sau công ty. Thỉnh thoảng, Knight dành một chút thời gian để suy nghĩ về thành công của mình và cách ông thành công như ngày nay. "Nhưng bạn không nên dành nhiều thời gian làm việc đó, vì 6 tháng là một khoảng thời gian mới, và bạn phải lo lắng về những thứ đang đến ở phía trước".
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Andrew Carnegie (1835-1919), ông "vua thép" của nước Mỹ, sinh tại Scotland. Từ một kẻ nghèo không một xu dính túi, ông trở thành một tỉ phú và tạo ra rất nhiều triệu phú khác trong ngành công nghiệp của mình.
Carnegie ra đời không có bà đỡ do nhà quá nghèo. Lần đầu đi làm thuê, ông được trả 2 xu/giờ nhưng về sau, có ngày ông sinh lãi 400 triệu USD/giờ. Ông thừa nhận mình không giỏi chuyên môn nhưng có nhiều tài chinh phục lòng nhân. Những kinh nghiệm của ông đã trở thành những bài học kinh điển cho các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới. Thuật “dẫn dụ” người khác Carnegie có hai đứa cháu rất vô trách nhiệm, đi học xa nhưng không viết thư cho mẹ khiến cả gia đình lo lắng. Chuyện đến tai Carnegie. Ông liền viết thư cho cháu, hỏi thăm tình hình học hành và tái bút: “Gửi cho mỗi cháu 50 USD”. Nhưng ông giả vờ quên, không kèm theo tiền trong thư. Tức thì, hai cháu gửi thư cho chú, tâm sự và kể hết tình hình của mình. Dĩ nhiên là cuối thư có nhắc: “Chú ơi, chú có đề cập đến số tiền…”. Theo Carnegie, muốn dẫn dụ người khác trước hết nhà lãnh đạo phải gợi trong lòng họ ý muốn nhiệt liệt nghe theo mình.
Thuật “gọi tên" Khi còn là đứa trẻ nghèo ở nông thôn Scotland, Carnegie bắt được một con thỏ cái. Không lâu sau, cô thỏ này sinh được một đàn con nhưng Carnegie không tìm được thức ăn cho chúng. Ông nảy ra một kế: nhờ những đứa trẻ hàng xóm đi góp nhặt rau củ cho thỏ. Bọn trẻ vô cùng sẵn lòng làm chuyện này khi Carnegie đề xuất: “Ai giúp tớ thì tớ sẽ dùng tên người ấy gọi những con thỏ con”. Khi bắt đầu bước vào thương trường, ông lại dùng thuật đó. Ông lấy tên hội trưởng một công ty xe lửa để đặt tên cho một xưởng lớn sản xuất thép của mình. Nhờ vậy mà Carnegie sinh lời rất nhanh khi công ty xe lửa đó trở thành “khách hàng thân thiết” mua đường ray xe lửa của Carnegie. Cái tài nhớ được và kính trọng tên bạn bè, đối tác, nhân viên… là một trong những bí quyết làm cho ông nổi danh. Ông từng khẳng định mình có thể nhớ được tên hàng trăm nhân công và khoe rằng ngày nào ông còn đích thân chỉ huy xí nghiệp thì ngày đó công ty không hề có cuộc đình công nào cả.
Không kiệm lời khen nhân viên Carnegie chỉ có bốn năm đi học nên trong chuyên môn ngành luyện thép ông rất kém. Ông không giấu giếm chuyện này mà nhiều lần thừa nhận: “Xung quanh tôi có nhiều trợ thủ, họ hiểu biết hơn tôi nhiều. Công việc của tôi chỉ là đốc thúc họ góp nhặt thật nhiều tiền”. Một cộng sự đắc lực của ông chính là triệu phú Charles Schwab. Cũng như Carnegie, Schwab có "tài năng" rất đặc biệt: biết khen ngợi và không kiệm lời khen với các nhân viên. Schwab nói: “Tôi kém chuyên môn nhưng có tài khơi gợi được lòng hăng hái ở mọi người. Lời chỉ trích của các sếp chỉ tiêu diệt sự tận tâm của nhân viên. Tôi luôn sẵn sàng khen ngợi nhân viên một cách thật thà và rất dè dặt trong lời chỉ trích”. Carnegie biết cách ca tụng nhân viên kể cả trước mặt lẫn lúc họ vắng mặt. Ông còn ca tụng họ cả khi ông chết. Bằng chứng là trên bia mộ ông khắc rõ: “Đây là nơi an nghỉ ngàn thu của một người biết tổng hợp sức mạnh của những người thông minh hơn mình”.
Không kiệm tiền bạc Andrew không hưởng phú quí một mình mà san sẻ cho nhiều người, bởi theo ông, “nhân viên là người góp nhặt tiền cho mình”. Số lượng các triệu phú làm việc cho tập đoàn của ông nhiều hơn bất cứ một tập đoàn nào khác từ trước đến nay. Ông còn quyên góp 60 triệu USD cho thư viện quốc gia, 78 triệu USD cho giáo dục, tặng các giáo đường 7.000 đàn piano…
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Sinh trưởng và bắt đầu làm quen với sự nghiệp kinh doanh tại Hawai, từ một cậu bé bán bưu thiếp, nước ép trái cây... Steve Case từng bước khẳng định tài năng kinh doanh của mình trên thương trường.
Sau khi xây dựng thành công một trong những doanh nghiệp giao dịch trực tuyến lớn nhất châu Mỹ America Online (AOL), Steve Case chính thức ghi tên vào danh sách những doanh nhân thành đạt và giàu có nhất hành tinh với số tài sản cá nhân ước tính trị giá 1 tỷ USD. Trải qua nhiều vị trí công việc khác nhau, bước vào thập niên 90, Steve Case đã xây dựng thành công Công ty Giao dịch Trực tuyến AOL. Hiện nay, với tầm hoạt động rộng khắp tại khu vực châu Mỹ, đội ngũ nhân viên lên tới hàng chục nghìn người, mạng lưới khách hàng ước tính khoảng 28 triệu thành viên, tổng thu nhập hàng tỷ USD, AOL đã trở thành một trong những mạng giao dịch trực tuyến uy tín hàng đầu châu Mỹ.
AOL cũng từng được tạp chí Fotune bầu chọn là một trong 500 doanh nghiệp tiêu biểu nhất thế giới. Sinh năm 1958 tại Honolulu (Hawai, Mỹ), mong muốn lớn nhất của bố Steve là cậu học tập thật tốt để sau này tiếp tục làm một luật sư nên từ khi còn rất nhỏ, Steve Case đã được gia đình tạo điều kiện cho theo học tại trường The 13-year Club và sau đó là Punahou School. Đây là những ngôi trường tốt nhất tại Honolulu. Trong những năm tháng học trung học tại trường Williams College, ngoài việc luôn duy trì được kết quả học tập cao, Steve Case còn thể hiện những tố chất nổi trội so với những người bạn cùng lứa khác, đặc biệt là khả năng về âm nhạc. Steve Case từng viết một số bản nhạc theo phong cách rock và không ít trong số đó được đăng trên các tờ tạp chí của địa phương, sau đó xây dựng thành chương trình hòa nhạc của một số nhóm nhạc nổi tiếng. Năm 1980, khi mới 22 tuổi, Steve Case đã xin vào làm việc tại Công ty Kinh doanh Mỹ phẩm Proctor & Gamble tại Cincinnati, Ohio. Giữ vai trò là nhân viên bán hàng, hằng ngày phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, Steve Case đã tranh thủ học được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Song song với đó, Steve còn mạnh dạn đưa ra sáng kiến về những loại sản phẩm và dịch vụ chăm sóc khách hàng mới cho công ty. Chính những sáng kiến đó đã khẳng định tài năng của Steve Case và mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho công ty. Do đó, chỉ một thời gian rất ngắn sau khi vào làm việc tại Proctor & Gamble, Steve Case đã được bổ nhiệm vào vị trí người quản lý. Trong thời điểm mới bắt đầu sự nghiệp, với suy nghĩ cần tích lũy thật nhiều kinh nghiệm để tạo nền tảng vững chắc cho các công việc kinh doanh sau này nên bất chấp vị trí cũng như chế độ lương bổng khá hậu hĩnh, chỉ một năm sau đó, Steve Case đã quyết định rời công ty. Steve Case tới Washington làm việc tại công ty chuyên cung cấp dịch vụ thương mại qua mạng. Tại đây, ông tìm được công việc làm trợ lý marketing cho người đứng đầu Công ty dịch vụ công nghệ thông tin Control Video. Đây là doanh nghiệp chuyên cung cấp các dịch công nghệ thông tin, trong đó chủ yếu là dịch vụ game video Atari, tuy nhiên, bước vào giai đoạn công nghệ thông tin phát triển với tốc độ cao, nhiều loại hình game giải trí khác lần lượt xuất hiện trên thị trường đã đánh bại Atari. Chính vì vậy, khi Steve Case bắt đầu tại Control Video thì cũng là lúc mà công ty đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về tài chính và đang đứng trước sự bất ổn nghiêm trọng. Là một tân binh của Control Video nhưng với những kinh nghiệm quý báu đã tích lũy được, Steve Case bắt tay nghiên cứu và đưa vào phát triển các loại game mới như Line, Free ball nhằm cứu vãn tình thế. Thêm vào đó, Steve Case còn nghiên cứu và tìm về cho công ty những khoản tài chính vô cùng quan trọng.
Mặc dù đã cố gắng hết sức, những dịch vụ game của Control Video vẫn không tiến triển được là bao, do đó, ông đã cùng với người đứng đầu công ty nghiên cứu, góp vốn và sau đó đổi tên công ty thành A Quantum Computer Services để chuyển hướng sang khai thác dịch vụ giao dịch trực tuyến. Trong thời điểm bắt đầu này, trên cương vị là một trong những người đứng đầu doanh nghiệp, Steve Case chịu trách nhiệm phụ trách mảng marketing cho công ty. Steve Case đã xây dựng chương trình tìm kiếm đối tác để mở rộng mạng lưới marketing, đồng thời mang về cho công ty những loại công nghệ tiên tiến nhất. Đầu tiên, ông tìm được bản hợp đồng liên kết với Công ty PCs. Dưới sự trợ giúp về công nghệ của công ty này, Steve Case đã nhanh chóng xây dựng được mạng giao dịch trực tuyến PC-Link cho A Quantum Computer Services. Đây có thể coi là nền tảng vô cùng quan trọng giúp công ty ổn định về nguồn thu nhập và tiếp tục mở rộng mạng lưới dịch vụ. Bằng tài năng thương thuyết của mình, ông đã tìm kiếm được một loạt bản hợp đồng liên kết với hai nhà cung cấp công nghệ thông tin lớn như IBM, Apple. Với hãng Apple, Steve Case đã xây dựng mạng dịch vụ Q-Link, với IBM là mạng dịch vụ Promenade. Thông qua mạng lưới dịch vụ mới được thiết lập, Steve Case đã giúp A Quantum Computer Services trong một thời gian dài sau đó luôn duy trì được mức tăng trưởng cao và ổn định trên thị trường giao dịch trực tuyến. Năm 1991, sau khi được bầu vào vị trí chủ tịch và giám đốc điều hành của công ty, nhằm mở rộng tầm hoạt động đồng thời quảng bá cho sản phẩm dịch vụ ra khu vực, ông quyết định đổi tên công ty A Quantum Computer Services trước đây thành America Online, gọi tắt là AOL. Đây là bước đi chiến lược của Steve Case hướng tới nguồn khách hàng ngày một lớn trong thời điểm môi trường đầu tư và giao dịch thương mại phát triển rầm rộ. Và chỉ một năm sau đó, AOL chính thức trở thành mạng giao dịch lớn tại khu vực, tổng thu nhập đã đạt con số 66 triệu USD. Trên đà tăng trưởng nhanh của công ty, từ thời điểm cuối thập niên 90 tới nay, Steve Case còn tiếp tục hàng loạt chương trình khuếch trương AOL bằng việc mua lại CompuServe, Netscape và hãng giải trí lớn nhất thế giới Time Warner Inc sở hữu nhiều tên tuổi lớn như kênh truyền hình CNN, HBO; Tạp chí Time, People, Sports Illustrated; Hãng phim Warner Bros.
Không dừng lại ở những gì đã đạt được, đến năm 2005, Steve Case còn tiếp tục xây dựng thành công mạng dịch vụ giao dịch trực tuyến Revolution với chức năng chuyên sâu vào phục vụ các đối tượng khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, khách sạn, y tế.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
“Xem mặt” đội doanh nhân trẻ xuất sắc nhất châu Âu
“Xem mặt” đội doanh nhân trẻ xuất sắc nhất châu Âu
Vốn bị coi là chậm chạp hơn các bạn đồng lứa ở Mỹ và châu Á, giới trẻ châu Âu cũng đã bắt đầu những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực kinh doanh. Dưới đây là 4 gương mặt nổi bật trong 10 nhân vật doanh nhân trẻ trong mắt tạp chí Business Week:
IC-Innovations bắt đầu kinh doanh ba năm trước. Chủ của công ty này là Tristan Cowell - lúc đó vừa tốt nghiệp ngành địa lý trường ĐH Nottingham. Ý tưởng kinh doanh xuất hiện khi Cowell thấy mẹ muốn dán các tấm thiệp Giáng sinh lên tường nhưng không được. Cowell phát hiện ra một dải khoá Velco lộ ra từ hộp đựng đồ khâu vá của mẹ. Từ đó, Cowell nghĩ việc dính những tấm thiệp này vào dải khoá Velco, treo trên tường. Sau khi phát triển sản phẩm trên năm 2004 và trưng bày tại một triển lãm ở Anh, Cowell liền có đơn đặt hàng 100.000 chiếc từ chuỗi siêu thị Asda Wal-Mart. Tuy nhiên, nhà cung cấp ở nơi anh ở không thể sản xuất được lượng lớn như vậy cho mùa nghỉ lễ 2005, anh bay tới Thượng Hải và thuê nhân công làm cho kịp hạn chót. Kể từ đó, anh cho ra đời những cái treo ảnh (Photo Hangups), treo các thứ trên tủ lạnh (Fridge Hangups) và ba loại sản phẩm mới lạ nữa để dán ảnh và thiệp. Doanh thu từ tháng 6/2005 tới tháng 6/2006 đạt 285.000 USD. Cowell cho biết năm nay họ sẽ tăng lên gấp bốn. Với Cowell, người có máu kinh doanh từ khi còn nhỏ, đây mới chỉ là bắt đầu.
Ben Woldring Bencom www.bencom.nl Usquert, Hà Lan Tuổi: 21 Ben Woldring bắt đầu mở công ty đầu tiên của cậu năm 1998 khi mới 13 tuổi. Giờ đây cậu là một trong những doanh nhân trẻ nổi tiếng nhất Hà Lan. Trang web đầu tiên của cậu - Bellen.com - là nơi so sánh giá cả và đánh giá các dịch vụ điện thoại di động (khá giống Aha.vn của Việt Nam). Kể từ đó, công ty của Woldring có tên Bencom, đã mở ra 8 trang web, cung cấp cho khách hàng thông tin chi tiết, rõ ràng về các dịch vụ điện thoại di động, cố định, Internet và các thiết bị khác. Khách hàng không bị tính phí khi sử dụng loại dịch vụ này. Vậy thì Woldring kiếm tiền bằng cách nào? Sau khi đọc bản nhận xét của Bencom, khách hàng của họ có thể đăng ký online tới các nhà cung cấp mà họ thích và Bencom sẽ nhận được phí môi giới. Bencom cũng thu tiền nhờ các quảng cáo trên trang web và bán bản quyền cho các nhà cung cấp viễn thông. Doanh thu của công ty này lên đến hàng triệu Euro, Woldring cho biết.
Karm Singh Desitouch www.desitouch.com London Tuổi: 25 Hãy tưởng tượng một trang web là tổng hợp của iTunes, MySpace và Youtube, nhưng lại chứa toàn phim của Bollywood, nhạc phim và nhạc của Bhangra. Đó là ý tưởng của Karm Singh khi xây dựng trang Desitouch. Singh là một người Anh gốc Ấn. Anh tạo trang web đầu tiên khi mới 16 tuổi và rất tự hào về cội nguồn văn hoá của bản thân. Niềm đam mê của anh, có từ khi nghiên cứu máy tính tại College, London, là muốn kết hợp văn hoá của phương Đông cùng với công nghệ phương Tây. Ngay cả tên của trang kết hợp từ desi - tiếng Ấn Độ là “truyền thống” - và với đuôi .com, cũng hợp với ý tưởng trên. Khách tới thăm trang này có thể tải nhạc Nam Á và các clip dưới nhiều định dạng và tải lên trang nhạc của chính họ từ máy tính hoặc điện thoại. Singh kiếm tiền bằng phí giao dịch và quảng cáo. Desitouch.com mới ra mắt từ vài tháng trước tuy nhiên Singh hy vọng đến tháng 12, lượng truy cập sẽ là 100.000 lượt mỗi tháng. “Tôi muốn nó trở thành trang web số một thế giới về giải trí Nam Á”, anh nói. Cứ theo đà này, anh sẽ đạt được điều đó.
Lars Duursma Debatrix www.debatrix.nl Rotterdam, Hà Lan Tuổi: 24 Dạy mọi người cách tranh luận là một ý tưởng kinh doanh mới của Công ty Debatrix ở Rotterdam, Hà Lan. Công ty này ra mắt đầu năm 2005, chủ là Lars Duursma. Chắc chắn là Duursma tin vào sức mạnh của thương thuyết. Khi còn là sinh viên của trường ĐH Erasmus, một vài công ty, tổ chức của Hà Lan đã mời anh đi thuyết giảng và đào tạo về phương pháp tranh luận. “Khi đó, tôi tự hỏi: ‘Tại sao mình không tự làm chứ?’”. Gần hai năm sau, Debatrix là một trong bốn công ty hàng đầu của Hà Lan về đạo tạo phương pháp thương thuyết. Họ cũng tham gia các cuộc thương lượng trong chính phủ và các công ty lớn. Duurmas càng làm cho anh được chú ý với hàng loạt các bài báo hàng tuần, phân tích các kỹ năng của các nhà chính trị lớn ở Hà Lan. Với 15 người làm việc bán thời gian và số lượng khách hàng ngày càng đông, Duursma đang rất thành công trong việc tăng cường chất lượng các tranh luận ở Hà Lan. Đây cũng là mục tiêu mà tất cả quốc gia mong muốn.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Bốn năm trước, Mark Zuckerberg hãy còn là một sinh viên tâm lý tại Đại học Harvard (Mỹ). Giờ đây cậu bé 23 tuổi này đã thành một tỷ phú công nghệ thời web 2.0, với tài sản lên đến vài tỷ USD.
Mạng kết nối xã hội Facebook, nơi thành viên giao tiếp và trao đổi thông tin với bạn bè, do Zuckerberg và một người bạn cùng sáng lập, hiện được định giá khoảng 15 tỷ USD sau khi Microsoft chi 240 triệu USD để mua lại 1,6% cổ phần của công ty quản lý mạng này hôm 24/10. Zuckerberg hiện nắm khoảng 20% cổ phần của Facebook và về mặt lý thuyết, cậu có thể kiếm được 3 tỷ USD từ việc bán hết số cổ phần này. Zuckerberg sinh năm 1984 trong một gia đình Mỹ gốc Do Thái tại khu ngoại ô Dobbs Ferry, thuộc hạt Westchester ở phía Bắc thành phố New York, bắt đầu tự học lập trình máy tính từ lớp 6. Năm 2002, Zuckerberg vào học tại Harvard, nơi anh thực hiện nhiều dự án máy tính ưa thích. Trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Forbes năm ngoái, Zuckerberg thừa nhận rằng chính ông Gates, người cũng từng bỏ học giữa chừng khi còn là sinh viên Harvard, là nguồn cảm hứng khiến anh tạm ngưng việc học để theo đuổi những dự án bên ngoài. Ông Gates đã đến nói chuyện trong một giờ học khoa học máy tính của Zuckerberg vào năm 2004. Zuckerberg nhớ lại: “Ông ấy thực sự khuyến khích tất cả chúng tôi tạm ngưng việc học để thực hiện một dự án nào đó mình ưa thích”. Dự án đầu tiên của Zuckerberg ở Harvard là Coursematch, cho phép sinh viên xem danh sách những sinh viên khác đăng ký cùng lớp học với mình. Dự án tiếp theo là Facemash.com, nơi sinh viên so sánh và đánh giá hình ảnh giữa những sinh viên khác trong trường, lại gây tranh cãi. Chỉ 4 giờ sau khi website này lên mạng, Harvard đã cắt đứt kết nối Internet của Zuckerberg và đưa anh ra hội đồng kỷ luật, nơi anh bị cáo buộc xâm phạm an ninh máy tính nhà trường, vi phạm những quy định về sự riêng tư trên Internet và sở hữu trí tuệ. Tất cả chỉ vì Zuckerberg đã xâm nhập vào website của Harvard lấy thông tin và hình ảnh của sinh viên mà không được phép. Anh xin lỗi dù vẫn tin rằng những thông tin như thế phải được công khai và sử dụng miễn phí. Sự cố này không khiến Zuckerberg nản lòng và anh vẫn tiếp tục tìm tòi dự án tiếp theo của mình. Đến năm 2004, Zuckerberg chính thức tung ra website Facebook, nơi sinh viên được mời cung cấp và chia sẻ thông tin cá nhân cho nhau, với sự giúp đỡ của bạn học là Dustin Moskovitz. Chỉ sau 2 tuần, gần phân nửa sinh viên Harvard đăng ký làm thành viên. Facebook trở nên phổ biến và mở rộng việc tiếp nhận sinh viên của nhiều trường đại học khác và cả học sinh trung học làm thành viên. Cũng như Bill Gates trước đó, Zuckerberg và Moskcovitz nhận thấy Harvard không còn thứ gì khác cho họ. Cả hai quyết định rời khỏi Harvard đến Palo Alto để dồn hết tâm huyết cho Facebook và thành quả đạt được không tồi chút nào. Zuckerberg hiện là tổng giám đốc (CEO) trong lúc Moskcovitz làm phó chủ tịch Công ty Facebook. Công ty hiện có 300 nhân viên - dự kiến sẽ tăng lên 700 nhân viên trong thời gian tới - và doanh thu hằng năm hơn 100 triệu USD. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn tạp chí Forbes, Zuckerberg thổ lộ rằng anh không màng đến việc trở thành một CEO hay quản lý công ty mà chỉ thích tạo ra thứ gì đó hấp dẫn. Điều này phần nào lý giải nhà sáng lập Facebook, người thích mặc quần jeans và mang xăng-đan Adidas, có cuộc sống khá kín đáo. Anh thậm chí còn không tham dự cuộc họp báo về vụ đầu tư của Microsoft mà để công việc giao tiếp lại cho nhóm quan chức điều hành Facebook vốn có nhiều kinh nghiệm hơn. Thành công nhiều nhưng Zuckerberg cũng bắt đầu gặp không ít thách thức. Gần đây, một số bạn học của Zuckerberg ở Harvard đã đệ đơn kiện anh ăn cắp ý tưởng lập website kết nối xã hội khi giúp họ làm một dự án hồi năm 2003. Bên nguyên đơn - những người sáng lập website đối thủ ConnectU - buộc Zuckerberg tội vi phạm bản quyền, gian lận và ăn cắp bí mật thương mại, đồng thời yêu cầu đóng cửa Facebook. Facebook phản công bằng cách cáo buộc ConnectU đã xâm nhập trái phép vào cơ sở dữ liệu để ăn cắp hàng nghìn địa chỉ e-mail trong nỗ lực dụ người sử dụng Facebook sang ConnectU. Ngoài vụ kiện, Zuckerberg dự kiến sẽ đối mặt với nhiều sức ép sau vụ đầu tư của Microsoft. Các nhà quảng cáo thích mạng xã hội vì họ có thể nhằm vào từng loại khách hàng tiềm năng khác nhau dựa vào thông tin cá nhân được đưa lên đó. Vì thế, khả năng kiếm doanh thu từ quảng cáo của Facebook sẽ trải qua đợt sát hạch đầu tiên vào tháng này khi công ty dự định thông báo kế hoạch quảng cáo trực tuyến của mình. Cho dù thành công hay thất bại thì Zuckerberg cũng hài lòng với những trải nghiệm của mình trong mấy năm qua. Anh biết rằng mình đã đi một chặng đường dài và anh có thể nghỉ ngơi thoải mái nếu Facebook không còn thành công như trước. Một khi điều đó xảy ra, Zuckerberg cho biết anh sẽ xem xét đến việc quay lại Harvard học tiếp.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Thừa hưởng sự nghiệp từ người cha, Bob Galvin đã đưa tập đoàn của gia đình trở thành một trong những hãng công nghệ hàng đầu thế giới, đặc biệt trước sự cạnh tranh khốc liệt của doanh nghiệp Nhật trong những năm 1970-1980.
Galvin sinh năm 1922 tại Wisconsin, Mỹ. Khi vẫn còn là một học sinh trung học, Bob đã làm quen với các công việc đầu tiên tại Công ty Galvin Manufacturing Company, sau này là Motorola, do bố cậu sáng lập và điều hành. Năm 1948, khi mới 26 tuổi, Bob Galvin trở thành phó chủ tịch của Motorola và 11 năm sau đó, là người kế thừa vị trí chủ tịch. Khi này, Motorola đã là một trong những thương hiệu nổi tiếng trên thị trường hàng điện tử, mức doanh thu hàng năm đã đạt bình quân 255 triệu USD mỗi năm. Đối với Motorola, thế mạnh trong những năm 60 vẫn là các sản phẩm vô tuyến màu nên Bob Galvin tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và đưa vào sản xuất những loại sản phẩm truyền thống này. Ông bắt tay vào chương trình nghiên cứu và sản xuất các dòng sản phẩm mới. Không lâu sau đó, hàng loạt sản phẩm vô tuyến màu chất lượng cao đã được sản xuất và tung thị trường. Bên cạnh vấn đề chất lượng sản phẩm, ông còn đặc biệt chú trọng tới dịch vụ chăm sóc khách hàng, nhờ đó, Motorola đã tạo được nét riêng biệt trên thị trường hàng điện tử đồng thời thu được lợi nhuận lớn và nâng cao được sức cạnh tranh trên thị trường. Trong giai đoạn từ năm 1958 cho tới năm 1987, dưới sự điều hành của Bob Galvin, Motorola đã có được bước phát triển nhảy vọt, tổng doanh số bán ra tăng từ con số 216,6 triệu USD lên 6,7 tỷ USD, giá cổ phiếu cũng theo đó tăng từ 89 cent với mỗi cổ phiếu lên 6,1 USD. Dựa trên thế mạnh về tài chính, Bob Galvin đã đầu tư những khoản tiền lớn vào thiết lập, cải tiến dây chuyền sản xuất của Motorola. Ông mạnh tay chi cho chương trình đào tạo và tuyển chọn nhân viên và đưa vào áp dụng chương trình quản lý nổi tiếng six-sigma cho toàn bộ doanh nghiệp. Mô hình quản lý này sau đó được Chính phủ Mỹ trao giải thưởng Malcom Baldridge. Với tổng doanh thu 41,2 tỷ USD trong năm 2006 và một mạng lưới phân phối rộng khắp đặt ở nhiều quốc gia trên thế giới, Motorola hiện là một trong những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới và là đối thủ chính của nhiều tên tuổi lớn như Nokia, Samsung, Siemen, Sony, LG. Riêng với Bob Galvin, dù không còn xuất hiện trên thương trường, nhưng với những gì làm được sau gần 6 thập kỷ hoạt động không ngừng, ông được tôn vinh như một huyền thoại của tập đoàn Motorola.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
“Khi nhận ra rắc rối, tức là đã quá muộn” - Đó là điều mà Chủ tịch tập đoàn Micrsoft - Bill Gates - muốn nhắc nhở bất kỳ ai đã, đang và sẽ dấn thân vào con đường kinh doanh.
“Hãy làm điều gì đó. Hoặc dẫn đường, hoặc theo sau, hoặc tránh ra khỏi lối đi” Ted Turner - Nhà sáng lập công ty Turner Broadcasting System
Đầu những năm 1970, khi Turner Communications là một công ty nhỏ, Ted Turner đã quyết định tạo ra một kênh thông tin phát 24 giờ là CNN và làm nên một cuộc cách mạng về truyền hình. Đó là một hướng đi rất táo bạo, nhưng Turner vẫn luôn gắn chặt với quan điểm của mình. Bài học chúng ta có thể thu được từ câu nói này là hãy hiểu vai trò của bạn trong bất kỳ một tình huống, một hoàn cảnh kinh doanh nào. Hãy hành động, làm bất kỳ điều gì phải làm để đẩy công ty tiến lên. Nên biết tự đánh giá bản thân, nếu bạn cảm thấy người khác có năng lực hơn mình, hãy tự nguyện tránh đường cho họ đi và chấp nhận học hỏi. Hãy đóng góp tốt nhất cho sự thành công của công ty, và đừng là cản trở.
“Bí quyết của thành công là dậy sớm, làm việc muộn và dò tìm dầu” J.D. Rockefeller (1839 - 1937) - Nhà sáng lập tập đoàn dầu mỏ Standard Oil
Sau khi khởi nghiệp với vị trí người trông coi sách, vào năm 1870, John Davison Rockefeller đã thành lập tập đoàn Standard Oil. Không lâu sau đó, ông đã giành được quyền kiểm soát hầu hết sản lượng dầu ở Mỹ. Tìm kiếm dầu là một công việc rất khó khăn, nhưng đó là mục đích và là thước đo thành công của Rockefeller. Việc ông phát hiện ra các giếng dầu không phải do may mắn mà đó là kết quả của hai bước đầu tiên trong câu nói này của ông.
Dù lĩnh vực kinh doanh của bạn là gì, hãy gắn bó và làm việc chăm chỉ vì nó. Làm những gì cần phải làm. Nỗ lực hết mình mỗi ngày, và bất kỳ việc gì bạn làm, hãy làm thật tốt.
“Trong lĩnh vực kinh doanh này, khi bạn nhận ra bạn gặp rắc rối, đã quá muộn để cứu vãn. Nếu trong bạn không thường trực cảm giác sợ hãi, bạn sẽ thất bại” Bill Gates - Chủ tịch kiêm kiến trúc sư trưởng tập đoàn phần mềm Microsoft
Bill Gates đã mạo hiểm có tính toán khi rời bỏ trường ĐH Harvard trong năm học thứ ba để cống hiến thời gian cho công ty non trẻ của ông là Microsoft. Trong câu nói này, Gates nhắc nhở chúng ta không bao giờ được ngủ quên trên chiến thắng. Hãy luôn nỗ lực cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ. Luôn ý thức về những vấn đề có thể xảy ra và sẵn sàng thay đổi. Trong lĩnh vực phần mềm hoặc bất kỳ lĩnh vực nào, bạn cần phải kiểm soát sự cạnh tranh và liên tục cải thiện.
Hãy linh hoạt. Trong mọi lĩnh vực, sự thay đổi là cần thiết để tồn tại và thành công.
“Nếu bạn có thể điều hành tốt trong một lĩnh vực, bạn có thể điều hành tốt trong bất kỳ lĩnh vực nào” Richard Branson - CEO tập đoàn Virgin
Nhà doanh nghiệp người Anh này đã phải vật lộn với căn bệnh khó đọc chữ và trường học để rồi tạo ra một tập đoàn hiện có trên 200 công ty trên toàn thế giới. Ông còn là ngôi sao trong show truyền hình thực tế do ông sáng lập, The Rebel Billionaire: Branson’s Quest for the Best (Tạm dịch: Tỉ phú nổi loạn: Cuộc tìm kiếm người giỏi nhất của Branson).
Bài học từ câu nói này là các quy tắc cơ bản có thể được áp dụng trong bất kỳ một kiểu công ty nào. Dù kinh doanh nhỏ hay lớn, những vấn đề phổ biến mà bạn cần phải luôn quan tâm là chất lượng sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng, hiểu và công nhận giá trị của nhân viên.
Nếu bạn điều hành thành công một công ty quan hệ công chúng, bạn có thể mở rộng chi nhánh để thành lập công ty con chuyên sản xuất các chương trình thương mại, và một công ty khác xuất bản tạp chí. Bằng cách tạo ra các công ty làm việc trong mối liên hệ với công ty của bạn, bạn đang mang lại cho mình những khả năng vô tận.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-
Chuck Feeney đeo đồng hồ giá 15 USD, đi máy bay vé hạng bét, cũng chẳng có nhà hay xe hơi riêng. Thế nhưng ông lại là một trong những nhà từ tâm hào phóng nhất thế giới, bí mật cho đi khối tài sản lớn, trị giá hàng tỷ USD của mình.
Sinh ra ở New Jersey trong một gia đình viên chức Ireland - Mỹ, Feeney là người đồng sáng lập ra chuỗi Cửa hàng mua sắm miễn thuế (DFS), chuỗi cửa hàng bán lẻ miễn thuế lớn nhất thế giới. Ông thích kiếm tiền nhưng lại không muốn có chúng, nên nhiều năm trời đã bí mật cho chúng đi. Dí dỏm, khiêm tốn, giản dị và sắc sảo, năm 1988 Feeney được Tạp chí Forbes đánh giá là người còn sống giàu thứ 23 của nước Mỹ, có tổng tài sản là 1,3 tỷ USD, giàu hơn cả Rupert Murdoch và Donald Trump. Nhưng trên thực tế không phải như vậy.
Nhiều năm trước đó, Feeney đã gửi hầu hết tiền của mình vào các quỹ từ thiện. Được nhà hảo tâm nổi tiếng Andrew Carnegie thế kỷ 19 khích lệ, Feeney đã tài trợ cho các trường học, bệnh viện, các trường đại học, cho nghiên cứu về y học, cho những tổ chức nhân quyền từ Mỹ, Ireland, đến Nam Phi. “Tôi luôn có một suy nghĩ canh cánh trong tâm trí là phải dùng sự giàu có của mình để giúp mọi người. Tôi cố sống một cuộc sống bình thường, giống như khi tôi lớn lên”, Feeney nói. “Tôi đặt mục tiêu làm việc thật chăm chỉ, nhưng không phải để làm giàu”.
Thời trẻ, Feeney kiếm tiền bằng đủ mọi việc, như đi gõ cửa từng nhà để bán thiệp Giáng sinh, dọn tuyết trên các đường lái xe vào nhà, nhặt bóng trên sân golf. Feeney thích kiếm tiền trong thử thách nhưng lại dùng số tiền kiếm được cho mình rất ít. Sau khi phục vụ trong quân ngũ, làm người trực tổng đài cho Không lực Mỹ tại Nhật trong Chiến tranh Triều Tiên, ông tốt nghiệp Đại học Cornell và tạo dựng sự nghiệp bằng việc bán rượu miễn thuế cho lính thủy Mỹ ở các cảng trên Địa Trung Hải trong những năm 1950. Công việc kinh doanh của ông nhanh chóng mở rộng và chuyển sang cả bán hàng miễn thuế ở sân bay. Cuối những năm 1960, công việc kinh doanh ngày một phát đạt, nhờ bán hàng miễn thuế từ Anchorage cho tới Hong Kong. Qua nhiều thập kỷ, tài sản của ông cứ lớn dần lên. Nhưng cuối cùng ông quyết định đem hiến tặng chúng. Ông từ chối những “đồ trang trí” xa xỉ như máy bay trực thăng, bỏ tiền cho những lý do có ích hơn, cũng với lòng hăng say và nhiệt tình như khi ông tạo dựng một trong những đế chế bán lẻ lớn nhất thế kỷ 20.
Trong nhiều năm Feeney đã giữ bí mật về lòng nhân ái, sự hào phóng của mình. Ông chỉ nói ông không muốn “làm mình phổng mũi” hay làm người khác “nhụt nhuệ khí” bỏ tiền cho những lý do xứng đáng như mình. Chỉ đến năm 1997, khi cổ phần trong DFS của ông được bán ra, sự hào phóng, lòng nhân ái của ông mới được tiết lộ với cả thế giới. Và ông nói rằng câu chuyện của ông chỉ nên được kể để khuyến khích mọi người hiến tặng tiền trong khi vẫn còn sống.
Tổ chức từ thiện Đại Tây Dương do Feeney đồng sáng lập đã trao tặng 4 tỷ USD trong 1/4 thế kỷ, trong đó có hơn 2 tỷ đóng góp cho Mỹ, hơn 1 tỷ cho Ireland, và một số lượng lớn tiền nữa cho các công tác từ thiện ở Việt Nam, Australia, Nam Phi, Thái Lan và Cuba.
Và giờ khi đã ở tuổi ngoài 70, Feeney mong muốn Tổ chức từ thiện của mình sẽ dùng nốt số tiền còn lại làm từ thiện trong khi ông vẫn còn sống. Ông thích dùng một câu tục ngữ của người Xentơ để nói về sự cấp thiết này: “Không có túi đựng tiền trong tấm vải liệm”.
__________________
-Đừng mãi tiếc nuối quá khứ- -Vì nó chỉ mang đến cho ta những nỗi buồn vô vọng-