
|
#1
| ||||
| ||||
| Cái này dài lém nên sẽ post từ từ, anh em đọc ko nên vội vàng kẻo nghẹn :M015: Nguồn: 3c.com.vn Hãy sử dụng Windows Vista hiệu quả hơn với sự giúp đỡ của chúng tôi: 99 cách tuỳ biến Vista sẽ đem đến cho bạn tốc độ cao hơn, rút ngắn thời gian khởi động, tăng dung lượng ổ đĩa, và cắt bỏ những phần không cần thiết. Bộ sưu tập 99 mẹo vặt này sẽ giúp chiếc PC của bạn tận dụng tối đa tiềm năng hệ điều hành mới nhất của Microsoft. Chắc chắn bạn sẽ tìm được trong bài báo này một vài cách thay đổi toàn bộ diện mạo của bạn cũng như chiếc máy tính của bạn. Mục tiêu của Windows Vista là cách mạng hoá thế giới tin học. Hệ điều hành hiện đại nhất đến từ Microsoft sẽ đảm nhiệm nhiệm vụ khó khăn đó là tiếp bước Windows XP (cho đến giờ vẫn là hệ điều hành phổ biến nhất và thành công nhất của Microsoft) bằng cách giới thiệu rất nhiều tính năng mới. Chúng ta sẽ có hệ thống file mới thay thế NTFS già cỗi, tính năng tương tác và bảo mật chưa từng thấy, dựa trên một nền tảng có từ thời Windows XP. Nhưng một điều kỳ lạ là trong quá trình sản xuất, những tính năng này lần lượt biến mất: Microsoft File System và hàng loạt tuỳ chọn an ninh mới nhất. Cuối cùng, Microsoft Windows Vista ra đời, thay vì nắm trong tay một phép màu diệu kỳ như đã hứa, chúng ta lại nhận được một hệ điều hành chẳng tiến bộ hơn là mấy so với người tiền nhiệm của nó. Các phản ứng ban đầu khá trái ngược, còn người dùng thì phàn nàn vì buộc phải sử dụng Vista bởi phản ứng chậm chạp, giao diện không thân thiện và tính bảo mật cẩn thận quá mức cần thiết. Cộng thêm những trục trặc đau đầu với hỗ trợ phần cứng và driver, bữa tiệc đón chào một hệ điều hành kiểu như Windows ME đã trở thành thảm hoạ. Nhưng đến giờ, khi phần lớn người dùng đã trở nên quen thuộc với các tính năng mới của Vista, họ chợt nhận ra rằng đây thực sự là một sản phẩm tuyệt vời. Nó cồng kềnh, nhưng vững chắc và được thiết kế cẩn thận. Rất nhiều tính năng vốn bị coi là yếu kém trong XP (như pre-fetching và indexing) đã trở thành những thành phần hữu dụng trong Vista. Windows Vista đã được hơn một năm tuổi, đủ để chúng tôi tích luỹ được một vốn hiểu biết kha khá về cách lập cấu hình và tuỳ biến hệ điều hành này thành một sản phẩm tốt hơn. Sau đây sẽ giới thiệu những kiến thức này với bạn dưới dạng một bộ sưu tập gồm nhiều mẹo vặt rất dễ áp dụng để bạn cũng trở thành chủ nhân của một chiếc máy tính Vista nhanh hơn và sạch sẽ hơn. Phần lớn những mẹo dưới đây đều nhằm tăng tốc độ phản ứng của Vista, dù trên một chiếc máy tính mới hay một chiếc máy tính cũ vừa được nâng cấp từ XP lên Vista. Bài báo này có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu của bạn, dù đó là tốc độ cao hơn, khởi động nhanh hơn, chơi game tốt hơn, hay thời gian sử dụng pin lâu hơn (cho laptop). Chú ý: Các mẹo dưới đây có thể được áp dụng cho bất kỳ phiên bản Vista nào: từ Home Basic cho tới Ultimate, 32-bit và 64-bit, chỉ trừ một số mẹo như đối với giao diện Aeroglass và Vista Media Center, chúng tôi sẽ có chú thích rõ ở mỗi phần. Ngoài ra còn một số mẹo dành riêng cho laptop Vista và một số mẹo chơi game. Nào, hãy bắt đầu! Chuẩn bị hệ thống Chuẩn bị trước không bao giờ là thừa cả. Những mẹo sau đây sẽ chỉ cho bạn cách sao lưu dự phòng và phục hồi các thiết lập Windows Vista cơ bản để chuẩn bị cho chuyến du ngoạn sắp tới. 1. Sao lưu dự phòng và khôi phục Registry của Vista Sau đây là cách biến đổi Registry Vista, một tập hợp những thiết lập và thông tin cấu hình mà bạn không thể truy cập được qua giao diện Vista chính thức. Hành động này có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc nếu bạn thay đổi sai giá trị, vì thế đầu tiên bạn nên sao lưu toàn bộ Registry, để có thể phục hồi dữ liệu nếu bạn có lỡ thay đổi sai giá trị nào. Cách sao lưu dự phòng đăng ký Vista: Mở menu 'start' và gõ 'regedit' trong ô tìm kiếm. Bấm Enter. Đánh dấu 'computer’ bên tay trái. Vào 'file\export'. Chọn một vị trí trên máy tính để lưu file sao lưu đăng ký. Tốt nhất là bạn nên lưu nó vào các phương tiện lưu trữ di động như ổ USB, hoặc trên một đĩa vật lý rời trong thư mục Windows. Đặt cho nó một cái tên như 'registrybackup08'. Để nhập hình ảnh Registry (và xoá tất cả các thay đổi đã thực hiện), bạn cần thực hiện lại các bước trên: mở regedit, rồi vào 'file\import' để tải file vừa tạo. 2. Chỉnh sửa Registry trong Windows Vista Sau khi đã sao lưu Registry, chúng ta cần thay đổi nó một chút. Như đã nói ở trên, để thực hiện một số mẹo, bạn cần biên tập lại đăng ký, vì thế tốt nhất bạn nên làm quen với cách thực hiện việc đó ngay từ lúc này. Cách biên tập Registry trong Windows Vista: Mở menu 'start' và gõ 'regedit' vào ô tìm kiếm. Nhấn Enter. Sau khi khởi động Regedit, chúng ta có thể thực hiện mọi mẹo vặt yêu cầu chỉnh sửa đăng ký. Để tìm được Regedit, bạn có thể sử dụng thư mục bên trái. Các folder trong phần này được gọi là ‘key’. Trong mỗi key lại có các key phụ và một nhóm giá trị quy định chức năng của Vista. Chúng ta sẽ tạo cả key và giá trị của key mới. Để tạo key của Registry mới: Nhấn chuột phải vào một vùng trống bên tay phải và chọn 'new/key'. Đặt cho key vừa tạo một cái tên tương ứng với mẹo sẽ áp dụng. Không cần lưu gì hết bởi mọi thay đổi trong đăng ký sẽ được lưu lại. Để tạo giá trị Registry mới: : Mặc dù bạn có thể tạo nhiều loại giá trị đăng ký khác nhau, nhưng trong bài báo này bạn chỉ cần tạo một giá trị duy nhất là DWORD. Để thực hiện việc này, bạn cần tìm key và key phụ tương tứng, bấm chuột phải trong phần để trống bên tay phải và chọn 'new/DWORD value'. Đặt tên cho giá trị vừa tạo, click 'ok', rồi nhấn đúp vào giá trị DWORD vừa tạo để thay đổi nó. Nhập lại giá trị tương ứng rồi nhấn 'ok.' 3. Tạo điểm phục hồi hệ thống ( System Restore Point ) trong Windows Vista Cũng như XP, Vista có cung cấp tính năng phục hồi hệ thống rất hữu dụng. Trong điều kiện lý tưởng, tính năng này cho phép bạn đưa toàn bộ hệ điều hành (trừ các dữ liệu cá nhân) về một thời điểm trước đó để xoá bỏ mọi hỏng hóc do chương trình lỗi hoặc các thay đổi không hợp lý gây ra cho hệ thống. Trước khi tiếp tục, chúng ta nên tạo thử một điểm phục hồi và tìm hiểu cách đưa hệ điều hành quay ngược thời gian. Cách tạo điểm phục hồi hệ thống:: Mở menu 'start', click chuột phải lên 'computer', chọn 'properties' Từ bảng tasks bên trái, nhấn 'System Protection'. Bấm phím 'create' để chọn cho thời điểm phục hồi một cái tên như 'system before tweaks' và nhấn 'create'. Để khôi phục Windows Vista về điểm phục hồi: Mở menu 'start', gõ 'system restore.' Bấm 'next'. Chọn điểm khôi phục mong muốn bằng cách đánh dấu thời điểm đó và nhấn 'next'. Sau khi lưu lại tất cả cá văn bản, nhấn 'finish'. Hệ thống sẽ khởi động lại và quay về thiết lập ở thời điểm phục hồi. Chuẩn bị phần cứng Chắc hẳn bạn cũng biết hệ điều hành Microsoft Windows Vista là một mỏ tài nguyên thực sự. Cho dù bạn có đánh giá Vista như thế nào chăng nữa, thì thực tế vẫn là hệ điều hành này rất ưa thích các thiết bị phần cứng tốc độ cao. Một vài mẹo vặt dưới đây sẽ giúp bạn cải thiện phần cứng của mình để khai thác Windows Vista tốt hơn nữa. 4. Bổ sung thêm bộ nhớ (RAM) Có vẻ như đây là một điều hiển nhiên, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Hầu hết những ai mới làm quen với máy tính và muốn tăng tốc bộ máy của mình đều nhận được lời khuyên này. Nhưng thực ra trong Windows XP và các hệ điều hành trước đó, lời khuyên này sai một cách cơ bản. Mặc dù khoảng cách về tốc độ giữa 1GB và 2-4GB bộ nhớ trong Windows XP hầu như không đáng kể, nhưng trong Windows Vista, mọi sự thay đổi trong RAM đều được khai thác tối đa bởi hệ điều hành này tận dụng tài nguyên tốt hơn nhiều. Tuy Windows Vista 32 bit chỉ sử dụng được tối đa ~3.2GB bộ nhớ, nhưng với mỗi GB bộ nhớ bạn thêm vào dưới giới hạn này, bạn sẽ nhận thấy sự thay đổi rất rõ về tốc độ. Tại thời điểm viết bài báo này, bộ nhớ DDR2 được bán với giá dưới $25/GB, nên có lẽ đây chính là thông tin có giá trị nhất mà bài báo này cung cấp cho bạn. Bạn nên sử dụng ít nhất 2GB RAM để khai thác tối đa Windows Vista, cho dù đó là DDR, DDR2 hay DDR3. Còn nếu bạn là một game thủ thì 4GB RAM là một lựa chọn tốt. 5. Cập nhật BIOS bo mạch chủ Trước khi nâng cấp lên hệ điều hành mới, nhất là một hệ điều hành yêu cầu khắt khe như Vista, bạn cần đảm bảo rằng chương trình cơ sở của mình luôn được cập nhật đầy đủ. Do đó, bạn cần kiểm tra toàn bộ các bản cập nhật BIOS bo mạch chủ sẵn có. 6. Cập nhật driver phần cứng Windows Vista là một sản phẩm còn khá mới, vì thế driver phần cứng (chương trình gắn kết Windows với phần cứng máy tính của bạn) vẫn đang trong quá trình phát triển. Nếu đã lâu bạn chưa cập nhật driver, bạn nên truy cập website nhà sản xuất bo mạch chủ, card video và card âm thanh (nếu cần) để có được các driver thành phần mới nhất cho Vista, đặc biệt nếu thời điểm bạn mua máy tính gần với ngày phát hành Vista năm ngoái, bởi kể từ đó đến giờ, driver ổ cứng đã có những bước tiến và một số thay đổi đang kể về tốc độ và tính ổn định. Trong thực tế, nhiều vấn đề người dùng gặp phải trong Vista chính là do các driver kiểu cũ gây ra, hoặc nhiều khi là driver của WinXP được dùng cho Vista. 7. Kiểm tra RAM Bạn nên kiểm tra bộ nhớ định kỳ, nhất là khi bạn vừa mới cài đặt Vista, hoặc nếu bạn gặp vấn đề về tốc độ hoặc tính ổn định với hệ điều hành này. May là Vista có cung cấp một ứng dụng kiểm tra bộ nhớ tích hợp có khả năng đảm nhiệm công việc này khá tốt. Trước hết, bạn cần khởi động lại và để yên máy tính khoảng 30 phút. Cách kiểm tra bộ nhớ máy tính với Windows Memory Diagnostics: Mở menu 'start' rồi gõ ‘memory’ vào thanh tìm kiếm rối nhấn Enter. Chọn 'restart now and check for problems' . Máy tính sẽ khởi động lại và tiến hành kiểm tra toàn bộ bộ nhớ. 8. Tối ưu hoá timings và điện áp bộ nhớ Bạn có thể còn ngần ngừ chưa muốn overclock hệ thống, nhưng để có được tốc độ bộ nhớ cao nhất có thể, bạn nên tối ưu hoá timings thời gian trễ của bộ nhớ máy tính. Nói một cách đơn giản, timings bộ nhớ là một tập hợp các khoảng thế giới chờ mà mỗi module bộ nhớ phải trải qua trong quá tình truyền dữ liệu ra vào máy tính. Những góc trễ đã được lập trình giúp đảm bảo rằng dữ liệu có thể được ghi và đọc theo thứ tự. Góc trễ càng ngắn chứng tỏ bộ nhớ gửi được nhiều dữ liệu hơn trong một khoảng thời gian nhất định, đồng nghĩa với việc tốc độ chung tăng lên. 9. Overclock bộ xử lý và bộ nhớ Hệ thống máy tính là phương tiện để bạn trải nghiệm Windows Vista, vậy tại sao không giúp chiếc máy này chạy nhanh hết mức có thể? Đúng là có một số lý do khiến bạn không muốn thực hiện điều này (tính phức tạp và độ ổn định của hệ thống là hai nguyên nhân chủ yếuu), nhưng với các máy tính hiện đại, việc overclock một chút sẽ không gây hại gì cho máy tính của bạn, đồng thời đem lại cho bạn lợi thế về tốc độ trong game và nhiều ứng dụng khác nữa. 10. Overclock card video Nếu chơi game là ưu tiên số một của bạn, thì mẹo vặt này hẳn sẽ làm bạn thích thú. Cũng như với bộ xử lý và bộ nhớ, việc overclock card video sẽ giúp nó có tốc độ cao hơn và thực hiện được nhiều việc hơn trong một khoảng thời gian xác định. Card video nhanh hơn = chơi game tốt hơn. Cũng như các kiểu overclock khác, không có gì đảm bảo trong việc này, vì thế hãy tiến hành cẩn thận và từ từ hét mức có thể. Một chiếc card được overclock hợp lý sẽ giúp tăng tốc độ game DX10 lên đáng kể. Nhưng cần chú ý rằng việc này không có tác dụng mấy với giao diện Aeroglass 3D. Nếu card video của bạn gặp vấn đề với Aeroglass, thì việc tăng tốc độ lên chút xíu sẽ chẳng ích gì. Còn nếu tốc độ trong Aeroglass đã là quá ổn với bạn, thì việc tăng tốc độ sẽ không cải thiện được gì nhiều. Giờ đây, khi đã hoàn thành xong những bước đi cơ bản, chúng ta sẽ đến với 10 thay đổi cơ bản đầu tiên cần thiết nhất. Đây là những cải tiến sẽ khiến Vista trở thành một hệ điều hành dễ chịu hơn, đặc biệt nếu như bạn tự cho mình là một người dùng máy tính ở mức trung – cao cấp. Các thay đổi thiết yếu: 11. Tắt User Account Control (UAC) Quản lý tài khoản người dùng (UAC) chắc hẳn là chức năng bị chê bai, hiểu lầm và ghét bỏ nhiều nhất trong số các tính năng mới của Windows Vista. Nhưng chức năng này nghĩa là gì? Chắc bạn có biết mấy ô yes/no cứ hiện ra khi bạn cố cài một phần mềm nào đó, hoặc xem chương trình quản lý thiết bị, hay làm bất cứ việc gì mà Vista cho rằng thuộc về mức ‘quản lý’? Đó chính là UAC đấy. Mục đích của chức năng này là ngăn cản bất cứ thay đổi trái phép nào đối với thiết lập hệ thống Windows bằng cách buộc bạn phải trả lời ‘ok’ một cách thủ công đối với mọi thay đổi dù là nhỏ nhất. Ngoài ra nó còn có nhiệm vụ khác là làm bạn phát bực mình, nhất là đôi khi cửa sổ popup không hiện ra khiến bạn cứ thắc mắc tại sao việc cài đặt của mình lại bị đông cứng. May mắn thay, bạn có thể dễ dàng vô hiệu hoá UAC, mặc dù như thế đồng nghĩa với việc tước đi một lớp vỏ bảo vệ bên ngoài giúp Vista chống lại virus và malware. Tuy việc vô hiệu hoá UAC khiến mức độ an ninh hệ thống quay trở về thời kỳ XP, nhưng bù lại nó giúp Vista trở nên dễ sử dụng hơn nhiều. Nhưng nếu bạn là người mới làm quen với máy tính, bạn vẫn nên kích hoạt UAC. Đối với những người còn lại, sau đây là cách để bạn tắt UAC trong Windows Vista: Vào start/control panel/user accounts and family safety/user accounts. Bấm 'turn user account control on or off' và chọn 'continue' khi ô UAC xuất hiện. Bỏ dấu tích tại ô 'use user account control (UAC) to help protect your computer'. Bấm 'ok'. Vista sẽ khởi động lại, và kể từ đây bạn sẽ thoát khỏi chức năng khó chịu này. Chú ý rằng việc vô hiệu hoá UAC chỉ có tác dụng đối với người dùng hiện tại. 12. Đặt Set Automatic Updates chỉ cho việc download Theo mặc định, Windows Vista sẽ tự động download và cài đặt tất cả các miếng vá và bản cập nhật mà Microsoft cho là cần thiết. Quá trình này thường khiến hệ điều hành tự động khởi động lại, tuy bạn có thể ngăn chặn việc này bằng bàn phím, nhưng trong trường hợp ngược lại, nó sẽ làm tắc nghẽn đường truyền của bạn. Một cách khác tốt hơn đó là cho phép Vista tự động download bản vá lỗi, nhưng phải có sự đồng ý của bạn trước khi cài đặt chúng và khởi động lại máy tính. Cách cài đặt chế độ cài đặt bản cập nhật bằng tay: Vào 'start/control panel/security/turn automatic updating on or off' Chọn 'download updates but let me choose whether to install them'. Bấm 'OK' Windows Vista sẽ thông báo cho bạn mỗi khi có bản cập nhật mới thông qua một biểu tượng trên taskbar, nhưng sẽ chỉ cài đặt nếu được sự cho phép. Nếu cài đặt bản vá, bạn sẽ được quyền scan chúng trước để xoá bỏ những phần mà bạn cảm thấy không cần thiết. 13. Biến thanh tìm kiếm thành lệnh Run. Đây là một mẹo cơ bản trong việc sử dụng Windows Vista, vì thế nếu bạn chưa biết cách thực hiện nó, hãy chú ý thật kỹ. Thanh tìm kiếm thực sự là người bạn đường hữu ích. Việc thiếu vắng nhiều tuỳ chọn và một lệnh Run có thể khiến nhiều người mới làm quen với Vista cảm thấy bỡ ngỡ, nhưng hãy yên tâm, thanh tìm kiếm sẽ bù đắp cho những thay đổi khác trong menu start. Theo mặc định, thanh tìm kiếm sẽ kiểm tra tất cả các folder cá nhân, file chương trình, thư mục Windows, Email và Internet history mỗi lần bạn nhập vào giá trị nào đó. Vậy điều này có nghĩa là gì? Nó đồng nghĩa với việc toàn bộ những văn bản bạn mới tạo, tất cả các trang web bạn mới ghé thăm và mọi chương trình bạn vừa cài đặt sẽ có thể truy cập chỉ với vài phím đơn giản. Bạn cứ thử thì biết: Nhấn phím Windows, gõ mail và nhấn Enter. Tiện lợi quá phải không? Tiếp theo hãy thử với 'cmd'. Bạn vẫn chưa có lệnh Run? Thực ra không phải như vậy. Sau khi bạn thêm những trang như Hotmail hay Gmail vào danh sách favourites, bạn có thể truy cập chúng trực tiếp từ thanh tìm kiếm theo cách y hệt. 14. Vô hiệu hoá công cụ tìm kiếm và cài đặt tự động Theo mặc định, công cụ cập nhật của Windows Vista sẽ tìm kiếm và download driver cho phần cứng. Vấn đề là ở chỗ: những driver mà nó tìm được (và tự động cài đặt nếu bạn chưa vô hiệu hoá lựa chọn này như trong mẹo số 12) thường không phải là lựa chọn tốt nhất cho phần cứng, thậm chí có thể gây rắc rối trong một số trường hợp. Theo tôi, tốt nhất là bạn nên vô hiệu hoá chức năng cập nhật driver tự động và nên cập nhật driver theo cách thủ công khi cần thiết. Cách vô hiệu hoá chức năng cập nhật driver tự động: Mở menu 'start' và bấm chuột phải lên 'computer'. Chọn 'properties'. Bấm 'advanced system settings' ở phần bên trái. Chọn tab 'hardware' và bấm 'Windows update driver settings'. Chọn 'never check for drivers when I connect a device'. Bấm 'ok'. 15. Dùng Windows Defender để vô hiệu các chương trình tự khởi động (startup) Windows Defender là một tiện ích trong Windows Vista, vốn được coi là ứng dụng chống spyware tích hợp của Microsoft, và nó đã thực hiện rất tốt công việc của mình. Ngoài ra Defender còn có một số tính năng đặc biệt khác, bao gồm khả năng quản lý và vô hiệu các chương trình startup. Chẳng có gì khiến một chiếc máy tính trở nên chậm chạp hơn là vài tá ứng dụng sẵn sàng khởi động khi bật Windows và rồi nằm im lìm trên taskbar, vì thế bạn nên học cách sử dụng Defender để dọn dẹp mấy tên ăn bám khó chịu này. Cách vô hiệu ứng dụng startup bằng Windows Defender: Vào 'start/all programs' rồi chạy 'Windows Defender' như kiểu Administrator . Bấm vào biểu tượng 'tools' trên góc màn hình. Nhấn vào 'software explorer'. Phần bên trái sẽ liệt kê những chương trình tự khởi động mỗi khi máy tính bắt đầu chạy và phân loại chúng theo tên công ty sản xuất. Bạn có thể bấm lên từng chương trình để biết được nhiều thông tin về nó trên phần bên phải. Chú ý đến các phím 'remove', 'disable' và 'enable' ở góc phải. Khi bạn ‘remove’ một ứng dụng, nó sẽ bị loại ra khỏi danh sách startup (không phải ra khỏi máy tính). ‘Disable’ ứng dụng sẽ ngăn không cho nó khởi động cùng lúc với máy tính, còn phím 'enable' sẽ kích hoạt lại những chương trình đã bị ‘disable’. Theo tôi, bạn không nên vô hiệu hoá bất kỳ ứng dụng nào của Microsoft ngoài sidebar. 16. Đặt tuỳ chọn Power ở mức tốc độ cao Theo mặc định, Windows Vista sử dụng một số thiết lập năng lượng khá dè dặt, tốt cho laptop hoặc cho môi trường, nhưng không tốt lắm cho bạn nếu bạn muốn chiếc máy tính của mình chạy với tốc độ tối đa. Để khắc phục điều này Microsoft đã bổ sung chọn lựa tiêu chuẩn 'high performance' vào control panel. Tuỳ chọn này có khả năng vô hiệu tất cả các tính năng tiết kiệm điện (ổ cứng sẽ tự động quay chậm lại nếu không được truy cập trong vòng 20 phút), cho phép máy tính của bạn khai thác năng lượng tối đa. Để đặt chuyển Vista sang mức 'high performance': Vào 'start/control panel' Bấm mục 'classic view' bên tay trái. Mở ‘power options'. Chọn mức 'high performance'. |
|
#2
| ||||
| ||||
|
Các mẹo khởi động cơ bản. 17. Kích hoạt DVD trong Vista Basic và Vista Business Bạn không thể chơi dược DVD trong Windows Vista? Thật không may là tất cả các phiên bản Microsoft Windows Vista đều không hỗ trợ DVD playback; chỉ có Vista Ultimate và Home Premium là có codec MPEG/2. Còn máy tính để bàn và máy tính xách tay chạy Vista Business hoặc Vista Home Basic đều chiếu phần mềm quan trọng này, khiến chúng không thể chạy được DVD. Đối với những người mới dùng Vista, sẽ chẳng có gì kinh khủng hơn việc bạn bật một đĩa DVD lên và được đón chào bằng mmột màn hình trống trơn, dù có sử dụng Windows Media Player 11 (WMP11), PowerDVD, hay VLC. May mắn thay, cách khắc phục việc này chẳng có gì khó khăn. Thường thì việc “nâng cấp lên Vista Ultimate” hoặc “giảm độ phân giải màn hình” trong Vista Business / Home Basic chẳng có tác dụng gì cả. Bạn không cần phải nâng cấp toàn bộ hệ điều hành chỉ để xem một bộ phim, còn kích cỡ màn hình thì chẳng liên quan gì. Cách giải quyết thực ra đơn giản hơn nhiều, và bạn cũng không cần trả $15 hay $50 để bổ sung tính năng này. Tất cả những gì bạn cần làm là download một gói codec miễn phí cho phép Windows đọc đĩa DVD (và cả DivX). Theo kinh nghiệm của tôi, bạn nên dùng gói codec K-Lite download tại đây hoặc đơn giản là tìm kiếm trên Google. K-Lite Codec Pack 3.6.5 Standard đáp ứng tất cả các nhu cầu về DVD của bạn, cùng với rất nhiều codec khác. Đầu tiên, bạn cần download K-Lite từ đường link trên, cài đặt theo mặc định hoặc chỉ chọn codec bạn cần, rồi khởi động lại media player. Kể từ giờ phút này, bạn đã có thể yên tâm xem DVD trên Windows Vista. Về bản chất, codec cũng như driver đối với file media. Cho dù bạn chọn ứng dụng nào để chơi hoặc biên tập DVD, nó cũng cần truy cập file codec phù hợp, và nếu thiếu chúng thì ngay cả một chương trình đa năng như VideoLAN VLC cũng chịu chết. Nếu bạn đang chạy Windows Vista X64 Business với Windows Media Player 11 phiên bản 64 bit, bạn cần dùng K-Lite Codec Pack 64-bit Add-on 1.2.0. Bạn có thể download nó tại đây trong Betanews.com. 18. Biến Windows Media Player 11 64-bit thành trình chơi nhạc mặc định trong Windows Vista x64 Có thể người dùng Windows Vista x64 sẽ muốn thực hiện thêm bước này bởi Windows Vista 64 bit sử dụng mặc định bản Windows Media Player 11 32 bit để đảm bảo tính tương thích file và media. Nếu bạn muốn đặt bản Windows Media Player 11 64 bit làm trình chơi nhạc mặc định WMP cho 64-bit Vista, bạn cần điều hướng lại một số shortcut của chương trình. WMP11 32 bit nằm trong folder '.../ProgramFiles(x86)/', còn WMP11 64 bit nằm trong '.../ProgramFiles/'. Để đặt hệ điều hành Vista x64 sử dụng mặc dịnh bản Windows Media Player 11 64 bit: Vào Start (biểu tượng Vista nằm ở góc dưới bên trái) > rồi sử dụng một trong số những lệnh sau (không có dấu ngoặc kép)… Để đặt WMP11 64 bit làm trình chơi nhạc tiêu chuẩn: "unregmp2.exe /SwapTo:64" Để chuyển lại WMP11 32 bit làm trình chơi nhạc tiêu chuẩn: "unregmp2.exe /SwapTo:32" Kể từ đây, Windows Vista x64 sẽ tự động chơi DVD trên phiên bản Windows Media player 11 64 bit. Còn nếu lệnh SwapTo không có tác dụng, bạn có thể dùng đến tập lệnh cao cấp hơn tại đây. 19. Nâng cấp Vista! Hãy giữ cho Vista của bạn luôn hợp thời bằng những bản vá mà Microsoft đã giới thiệu kể từ khi phát hành Vista, giúp sắp xếp lại các chức năng trong hệ điều hành hoặc lấp lỗ hổng an ninh. Nếu muốn khai thác tối đa Vista, bạn cần giữ cho nó luôn tươi mới. Để cập nhật Vista, chỉ cần mở menu 'start’ rồi gõ 'update' trong thanh tìm kiếm. 20. Chạy chương trình với quyền administrator Microsoft có bổ sung thêm một lớp bảo vệ cho Windows Vista bằng cách quy định các tài khoản người dùng tiêu chuẩn không có quyền quản lý toàn bộ. Điều này giúp bảo vệ hệ điều hành bởi nó khiến người dùng không thể dễ dàng thay đổi một số thiết lập hệ thống, nhưng nó cũng đồng thời gây khó dễ cho họ. May là bạn có thể dễ dàng giải quyết vấn đề này. Nếu bạn là một chuyên gia về Vista, điều này là quá dễ dàng đối với bạn, còn nếu bạn chỉ mới làm quen với Vista, bạn cần thực hiện tổng hợp nhiều mẹo khác nhau: Cách chạy chương trình với quyền Administrator: Gõ tên chương trình vào thanh tìm kiếm trong menu 'start'. Bấm chuột phải lên biểu tượng chương trình trong phần kết quả tìm kiếm và chọn 'run as administrator.' Cách tăng tốc độ Vista Bây giờ chúng ta sẽ đến với trọng tâm của bài báo này. Các mẹo dưới đây sẽ giúp bạn tăng tốc Vista bằng cách thay đổi thiết lập mặc định hệ điều hành. 21. Vô hiệu indexing tìm kiếm Chức năng indexing đã mạnh lên rất nhiều trong Windows Vista so với trong Windows XP, và càng trở nên hữu ích hơn nhiều với sự hiện diện của thanh tìm kiếm. Tuy vậy, nó không phải là một chương trình thiết yếu và chiếm rất nhiều tài nguyên bộ nhớ và ổ cứng. Việc vô hiệu chức năng này không xoá chức năng tìm kiếm, nhưng sẽ khiến quá trình tìm kiếm chậm lại một chút. Bù lại, nó giúp tăng tốc toàn bộ hệ thống của bạn. Cách vô hiệu chức năng Indexing Windows Vista: Mở menu 'start', gõ 'services' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Trong cửa sổ chương trình, nhấn chuột phải vào 'windows search' và chọn 'properties'. Trong ô 'startup type', chuyển sang 'disabled', bấm phím 'stop' bên dưới để dừng chức năng. Nhấn ‘ok.’ 22. Giới hạn tuỳ chọn tìm kiếm menu khởi động Sau khi đã làm quen với thanh tìm kiếm trong menu khởi động, bạn sẽ thấy đây là một cách làm đơn giản đến mức khó tin để tìm kiếm và khởi động chương trình, file và nhiều thứ khác. Tuy vậy, nó có thể gặp một số vấn đề về tốc độ nếu lượng dữ liệu trong Vista tăng lên. Ngoài ra, nó có thể gây ra nhiều kết quả koi mong muốn. Vì thế bạn nên điều chỉnh thanh tìm kiếm để sắp xếp và tăng tốc độ tìm kiếm: Cách thay đổi tuỳ chọn trong thanh tìm kiếm menu start: Nhấn chuột phải vào phím 'start' và chọn 'properties.' Nhấn phím 'customize'. Chọn 'search'. 5 lựa chọn tiếp theo có nhiệm vụ quản lý chức năng thanh tìm kiếm: 'Search': tốt nhất là bạn nên kích hoạt chức năng này (trừ khi bạn chúa ghét việc tìm kiếm). 'Search communications': giúp tìm địa chỉ Windows mail. Còn nếu bạn không dùng Windows mail hoặc không muốn khởi động email từ menu start, bạn có thể vô hiệu chức năng này. 'Search favourites and history'sẽ kiểm tra Internet Explorer 7 để tìm các trang web ưa thích hoặc các website vừa được ghé thăm. Nếu bạn dùng Firefox hay muốn giữ tính bảo mật, bạn nên vô hiệu chức năng này, mặc dù nó rất có ích cho việc việc tìm kiếm trang web ưa thích của bạn. 'Search files'có ba thiết lập: theo mặc định nó sẽ chỉ tìm kiếm tất cả các file trong thư mục người dùng. Nhưng bạn cũng có thể điều chỉnh nó tìm kiếm tất cả những file indexed trên máy tính, hoặc vô hiệu hoá nó hoàn toàn để đạt tốc độ cao nhất. 'Search programs'cho phép kích hoạt và vô hiệu chương trình. Theo tôi, bạn nên để nguyên chức năng này, nếu không các nhà phát triển của Microsoft sẽ rất thất vọng (mặc dù điều này khá là có ích). 23. Gỡ tính năng “giảm bớt sự chênh lệch” từ xa Chức năng “giảm bớt sự chênh lệch” từ xa trong Vista được thiết kế để sắp xếp quá trình chuyển file từ xa bằng cách quản lý sự thay đổi file và chỉ chuyển các phần file đã được thay đổi, thay vì toàn bộ file. Thật là một tính năng tuyệt vời cho các văn phòng chuyên tích trữ và truy cập ổ đĩa mạng lưới, nhưng lại không có ích mấy đối với người dùng gia đình, nhất là khi chức năng này làm giảm tốc độ hệ thống. Cách gỡ tính năng”giảm bớt sự chênh lệch” từ xa: Vào 'start/control panel/programs/uninstall a program'. Trong sidebar, bấm 'turn windows features on and off' Xoá 'remote differential compression' và bấm 'ok.' |
|
#3
| ||||
| ||||
| 24. Tăng tốc ổ đĩa ngoài Nếu bạn dùng ổ cứng ngoài làm khu lưu trữ thứ cấp cho chiếc máy tính Vista của mình, hay nếu bạn thường xuyên dùng ổ USB để chuyển file cỡ lớn, bạn sẽ thấy mẹo này rất hữu ích. Khi thay đổi cách Vista ghi dữ liệu lên thiết bị lưu trữ USB, chúng ta có thể tăng đáng kể tốc độ truy cập và chuyển file của thiết bị này. Theo mặc định, Windows không dùng cache ghi với ổ USB, tức là mọi dữ liệu bạn gửi đến ổ đều được chuyển sang thiết bị ngay lập tức. Cache ghi đóng vai trò làm vùng đệm giữa ổ cứng cơ học chậm chạp và bộ nhớ hệ thống tốc độ cao. Nói một cách đơn giản, máy tính sẽ ghi dữ liệu lên cache (một khu vực bộ nhớ), sau đó cache sẽ chuyển dữ liệu đến ổ để hệ thống của bạn rảnh tay làm những việc khác. Bằng cách kích hoạt cache ghi trên ổ USB, bạn có thể đẩy cao tốc độ ổ đĩa ngoài. Nhưng cần chú ý rằng tốc độ bộ nhớ flash sẽ không là bao. Cách kích hoạt cache ghi trên ổ đĩa ngoài: Cắm ổ USB vào máy, nhấn 'start\computer.' Nhấn chuột phải vào ổ đĩa ngoài trong cửa sổ computer và chọn 'properties.' Bấm tab 'hardware'. Đưa chuột vào ổ đĩa ngoài trong dánh sách và nhấn phím 'properties'. Chọn tab 'policies'. Chọn 'optimize for performance’ rồi nhấn ok. Chú ý: Để bảo vệ dữ liệu, từ giờ bạn sẽ phải dùng đến biểu tượng 'safely remove hardware' trong taskbar mỗi khi cần rút ổ đĩa ngoài ra. Còn nếu bạn chỉ Shutdown thì không cần thiết. 25. Kích hoạt Readyboost trên bộ nhớ flash Nếu để ý một chút, bạn sẽ thấy rằng chúng tôi không đưa Readyboost vào nhóm các phương pháp tăng tốc độ. Đó là bởi chúng tôi đã kiểm tra kỹ tính năng này và rút ra kết luận rằng nó chỉ giúp tăng tốc độ lên một mức không đáng kể, trừ khi bộ nhớ bạn đang dùng có dung lượng rất thấp (từ 512MB trở xuống). Do bộ nhớ DDR2 có giá rất rẻ, nên sẽ tiết kiệm hơn nhiều nếu bạn sử dụng nhieeuf bộ nhớ DDR2 thay vì ReadyBoost. Tuy vậy, nếu bạn đã có một hai bộ thiết bị bộ nhớ flash và muốn dùng thử ReadyBoost, nhưng Vista lại bảo rằng phần cứng của bạn không đủ nhanh để tham dự cuộc chơi,thì mẹo sau đây có thể giúp ích cho bạn. Cách kích hoạt ReadyBoost trên một ổ USB ‘tốc độ thấp’ hoặc trên card bộ nhớ flash. Đưa thiết bị vào và đừng để ý đến cửa sổ vừa hiện ra.Mở 'start\computer', nhấn chuột phải vào thiết bị flash và chọn 'properties.' Vào tab 'readyboost' và chọn 'do not retest this device', nhấn 'ok'. Rút ổ USB ra. Mở Regedit (vào menu 'start' và gõ 'regedit.') Vào 'HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\WindowsNT\C urrentVersion\EMDMgmt'. Trong folder này, sẽ có một folder ứng với mỗi ổ USB bạn đã nối vào máy tính. Chọn ổ thích hợp. Nhấn đúp lên giá trị 'DeviceStatus' và chuyển sang '2'. Lại cắm USB vào. Sau đó nó sẽ được ReadyBoost nhận diện. 26. Tăng tốc ổ SATA trong Vista Tương tự như trong mẹo số 24, bạn có thể thay đổi Vista để tăng tốc ổ cứng SATA trong. Cache ghi của Vista có hai mức, trong đó mức cơ bản hơn sẽ được kích hoạt mặc định. Nhưng nếu muốn thực sự tăng tốc ổ cứng SATA, bạn cần kích hoạt mode 'advanced disk performance'. Cần chú ý rằng mẹo này, cũng như một số mẹo khác trong bài, có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến Vista. Khi mở rộng cache ghi (dữ liệu chứa trong bộ nhớ được ghi vào ổ cứng), bạn cũng đã làm tăng nguy cơ gây tổn thương file hệ thống trong trường hợp treo máy hoặc mất điện. Nhưng bạn lại tăng được tốc độ ổ đĩa, vì thế quyết định là tuỳ ở bạn. Cách kích hoạt tăng hiệu suất làm việc trong ổ SATA:: Vào 'start\computer. Nhấn chuột phải vào ổ SATA trong cửa sổ computer và chọn 'properties.' Bấm tab 'hardware'. Chọn ổ SATA trong danh sách rồi nhấn phím 'properties'. Chọn tab 'policies'. Chọn 'enable enhanced performance'. Đọc kỹ hướng dẫn. Nhấn OK. 27. Chọn từng CPU cụ thể cho từng ứng dụng Windows Vista cho phép bạn dễ dàng chỉ định một ứng dụng để chạy trên một CPU cụ thể với ứng dụgn mang tên processor affinity. Nếu máy tính của bạn dùng bộ xử lý 2 nhân hoặc 4 nhân thì đây là cách rất tốt để tận dụgn các bộ xử lý cấp hai. Kết quả đạt được còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng đây là một công cụ rất thú vị để kiểm tra loại chip đa nhân mà bạn mới sắm. Cách đặt thiết lập quan hệ bộ vi xử lí cho một ứng dụng: Khởi động ứng dụng cần thiết. Nhấn tổ hợp phím CTRL+ALT+DEL và chọn 'task manager'. Trong tab 'applications', tìm chương trình tương ứng rồi nhấn chuột phải và chọn 'go to process'. Tab 'processes' sẽ hiện ra. Bấm chuột phải lên quy trình điều khiển ứng dụng của bạn và chọn 'set affinity...'. Cửa sổ processor affinity sẽ mở ra. Chọn bộ xử lý bạn muốn chạy ứng dụng đó. Chú ý rằng tất cả cá thiết lập đều sẽ quay trở lại giá trị mặc định khi bạn khởi động lại máy. 28. Thiết lập ưu tiên cho ứng dụng: Tất cả các hệ điều hành hiện tại của Microsoft đều sử dụng khái niệm quyền ưu tiên, tức là thứ tự các quy trình được chú ý nhiều nhất từ CPU. Trong Vista, bạn có thể thay đổi thứ tự này tùy theo nhu cầu cá nhân để phần cứng tập trung chủ yếu vào những gì bạn muốn thực hiện. Vista có một dãy thiết lập sẵn có, từ ‘thấp’ cho tới ‘thời gian thực’. Cần chú ý rằng tất cả các ứng dụng chiếm toàn bộ màn hình (trong đó có game) đều được Vista tự động ưu tiên, vì thế bạn không cần tăng tỉ lệ khung/giây. Tất cả những gì bạn cần làm là thay đổi tỉ lệ tốc độ/tài nguyên tiêu thụ của các ứng dụng window thường dùng. Cách đặt lại thiết lập ưu tiên cho ứng dụng: Mở ứng dụng cần dùng. Nhấn CTRL+ALT+DEL và chọn 'task manager'. Trong tab 'applications', tìm chương trình cần đặt mức ưu tiên rồi nhấn chuột phải và chọn 'go to process'. Trong tab 'processes', bạn sẽ thấy quy trình điều khiển ứng dụng của bạn được đánh dấu. Baams chuột phải lên quy trình này và chọn 'set priority'. Danh sách ưu tiên sẽ mở ra. Điều tiếp theo bạn cần làm là chọn mức cần thiết, nhưng cần chú ý rằng nếu chọn 'realtime', có thể bạn sẽ gặp rắc rối khi muốn chạy một chương trình khác cùng lúc. Tất cả các thiết lập sẽ quay lại thứ tự mặc định sau khi khởi động lại máy tính. 29. Tạo shortcut cho các ứng dụng đang chạy với thiết lập CPU/thứ tự ưu tiên nhất định Nếu đã thử hai mẹo để chọn các CPU cụ thể và đặt mức ưu tiên cho các quy trình, chắc hẳn bạn sẽ nhận thấy rằng mọi thiết lập bạn tạo ra sẽ biến mất sau khi khởi động lại máy. Vậy làm sao để những thay đổi này tồn tại vĩnh viễn? Tất nhiên việc này không dễ dàng, nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được bằng cách tạo shortcut tới ứng dụng cần chạy với thiết lập CPU và mức ưu tiên do bạn đặt ra. Cách tạo shortcut để chạy ứng dụng với chỉ định CPU và thiết lập ưu tiên cụ thể: Đầu tiên, bạn cần biết vị trí ứng dụng cần chạy. Cách tốt nhất để thực hiện việc này là sử dụng thanh tìm kiếm trong menu start. Giả sử bạn cần tìm file thực thi cho Vista Sidebar. Mở menu start và gõ 'sidebar' vào ô tìm kiếm.Mục đầu tiên bạn gặp là file thực thi Windows Vista Sidebar. Baams chuột phải lên file này và chọn 'properties'. Nhấn phím 'open file location' ở phía cuối cửa sổ thứ hai. Chú ý đường dẫn file trong thanh định hướng ở phía trên màn hình. Với Sidebar, đó là 'c:\program files\windows sidebar\sidebar.exe'. Tiếp tục quay lại màn hình và tạo một shortcut mới bằng cách nhấn chuột phải rồi chọn 'new/shortcut.' Khi shortcut wizard xuất hiện, gõ dòng sau vào text box: C:\WINDOWS\system32\cmd.exe /c start "(tên ứng dụng bạn muốn khởi động, bao gồm cả dấu ngoặc kép).exe" /(thứ tự ưu tiên LOW, HIGH hay REALTIME) /AFFINITY (1 hoặc 2) "(đường dẫn tới file bạn muốn chạy, lấy từ bước vừa xong, bao gồm cả dấu ngoặc kép)" Sau khi thay thế xong, bạn có thể bỏ dấu ngoặc, nhưng tất cả các format còn lại đều phải được giữ nguyên. Lưu shortcut rồi dùng nó để khởi động ứng dụng với thiết lập mong muốn. |
|
#4
| ||||
| ||||
| 30. Vô hiệu hoá các dịch vụ không cần thiết trong Windows Vista Có một số tính năng mặc định trong Vista mà người dùng gia đình hiếm khi cần đến. Vì thế bạn có thể vô hiệu hoá chúng để tiết kiệm tài nguyên hệ thống. Nhưng cần chú ý rằng danh sách này được lập dành cho người dùng gia đình và môi trường mạng gia đình. Nếu máy tính của bạn nằm trong mạng lưới công ty lớn, hoặc bạn sử dụng mạng máy chủ (như hệ thống điều khiển tên miền) tại gia, thì bạn không nên thay đổi bất cứ dịch vụ mặc định nào đang có trong Vista cả. Cách vô hiệu hoá các dịch vụ không cần thiết: Mở menu 'start' và gõ 'services' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Trong cửa sổ vừa hiện, tìm tên dịch vụ bạn muốn vô hiệu hoá. Nhấn chuột phải và chọn 'properties'. Trong ô 'startup type', thay đổi giá trị sang 'disabled', nhấn phím 'stop' bên dưới để ngưng sử dụng dịch vụ ngay lập tức. Sau đó nhấn ‘ok’. Ngoài ra, nếu bạn không rõ về một chương trình hay ứng dụng nào đó đang sử dụng dịch vụ định vô hiệu hoá, bạn nên để 'manual', rồi bấm phím ‘stop’ bên dưới để ngưng sử dụng dịch vụ ngay lập tức. Khi chọn ‘manual’, nếu chương trình cần đến dịch vụ này, nó vẫn sẽ khởi động được chứ không gặp lỗi. Dưới đây là danh sách các dịch vụ Vista mà bạn có thể yên tâm vô hiệu hoá bằng phương pháp vừa nêu. Không phải tất cả các dịch vụ này đếu có trong tất cả các phiên bản Vista, vì thế đừng lo lắng nếu bạn không tìm thấy một dịch vụ nào đó. Application experience Application management Distributed link t****ing client Offline files Webclient Tablet PC input service TCP/IP NETBIOS helper Khởi động lại dịch vụ: Nếu bạn thấy hằng ngày mình đều sử dụng một ứng dụng trong danh sách trên, và muốn khởi động lại nó, bạn chỉ cần quay lại Services control panel, nhấn đúp lên dịch vụ cần vô hiệu hoá và chuyển 'startup type' thành 'automatic' rồi nhấn ok. Tiếp đó, nhấn chuột phải lên dịch vụ này rồi bấm "start" để khởi động dịch vụ. Khi chuyển 'startup type’ sang ‘automatic’, bạn đã ra lệnh cho Vista tự động khởi động dịch vụ mỗi khi máy tính được bật. Tuy nhiên, nếu dịch vụ đã bị vô hiệu hoá hoặc ngừng sử dụng, bạn cần phải khởi động lại dịch vụ này theo cách thủ công. 31.Tắt chức năng quét hệ thống tự động trong Windows Defender Theo mặc định, Windows Defender sẽ tiến hành quét spyware hằng ngày (mặc dù là vào giờ nhàn rỗi nếu có thể). Tuy chương trình này chỉ chạy một cách lặng lẽ nhưng nó vẫn có thể ảnh hưởng đến tốc độ máy tính y như thể bạn đang quét toàn bộ file hệ thống vậy. Và có lẽ bạn cũng muốn vô hiệu hoá hoàn toàn chức năng quét tự động này và chỉ thỉnh thoảng tiến hành quét khi có sự đồng ý của bạn. Cách tắt chức năng quét hệ thống tự động trong Windows Defender: Mở menu 'start' và gõ 'defender.' Click biểu tượng 'tools' trên màn hình cửa sổ, rồi chọn 'options'. Xoá 'automatically scan my computer'. Bấm 'save'. 32. Nâng cấp lên Windows Vista Service Pack 1 Beta (SP1-beta) Gói dịch vụ đầu tiên cho Windows Vista đã có ở bản beta, hứa hẹn sẽ cải thiện đáng kể tốc độ và khắc phục một số vấn đề dai dẳng ảnh hưởng đến tốc độ Vista, đặc biệt trên các máy tính hạng bình dân. Mặc dù việc cài đặt phần mềm beta là khá mạo hiểm, nhưng lợi ích từ tốc độ Microsoft đem lại rất đáng để bạn liều một phen. Trong lịch sử của mình, các gói dịch vụ Windows đem lại khá nhiều lợi ích lớn (và đôi khi cả những việc đau đầu) cho người dùng, và SP1 lần này cũng không ngoại lệ. Chỉ cần đảm bảo rằng bạn sẽ cài đặt nó sau khi bản chính thức ra đời, nếu như chưa thực hiện điều này từ trước. 33. Vô hiệu hoá superfetch đối với máy tính bộ nhớ thấp Superfetch là một tính năng khá thú vị trong Vista. Theo lý thuyết, chiếc PC của bạn sẽ ‘học tập’ những gì bạn hay làm khi truy cập file và ứng dụng, rồi cấu hình trước những ứng dụng hay dùng nhất trong bộ nhớ, giúp bạn nhanh chóng truy cập những ứng dụng này. Còn trong thực tế, chức năng này chỉ có ích cho những máy tính có bộ nhớ từ 2GB trở lên, và có nguy cơ làm chậm hoặc thậm chí treo máy đối với những hệ thống có ít hơn 2GB bộ nhớ. Nếu bạn thấy tốc độ khởi động của máy tính mình quá chậm, có lẽ bạn nên thử vô hiệu hoá tính năng Superfetch này. Cách dừng và vô hiệu hoá Vista Superfetch: Vào menu 'start' và gõ 'services' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Trong cửa sổ vừa hiện, tìm dịch vụ 'superfetch'. Nhấn chuột phải và chọn 'properties.' Đổi 'startup type' thành 'disable’ rồi nhấn phím ‘stop’ để ngưng sử dụng dịch vụ. Nhấn 'OK'. 34. Khởi động Vista với tất cả các bộ xử lý hiện có Mặc dù việc tận dụng tối đa các bộ xử lý đa nhân có thể giúp giải quyết những công việc nặng, nhưng Vista lúc nào cũng chỉ sử dụng một nhân xử lý duy nhất mà thôi. May mắn thay, bạn có thể khắc phục nhược điểm này và buộc Vista sử dụng toàn bộ các bộ xử lý hiện có trong quá trình khởi động. Để làm Vista sử dụng toàn bộ các bộ xử lý hiện có trong quá trình khởi động: Bấm chuột phải lên menu 'start' và gõ 'msconfig.' Nhấn Enter. Vào tab 'boot' và bấm 'advanced options.' Đánh dấu tuỳ chọn 'number of processors:' và chọn số lượng nhân xử lý rời trong máy tính. Nhấn 'ok' để lưu các thay đổi vừa tạo. Sau đó khởi động lại máy tính. 35. Giúp Windows Vista 32 bit tận dụng tối đa bộ nhớ bằng cách kích hoạt PAE Như đã đề cập từ trước, bản Vista 32bit sẽ chỉ nhận được tối đa trên 3GB bộ nhớ một chút nếu bạn cài 4GB RAM. Tuy nhiên, bạn có thể tận dụng được toàn bộ 4GB của mình bằng cách kích hoạt mode Mở rộng địa chỉ trang (PAE) trong Vista. Tính năng này sử dụng bộ xử lý 64-bit của Intel và AMD để thêm không gian địa chỉ bộ nhớ vào phần bộ nhớ mà hệ điều hành thường sử dụng. Với PAE, bạn chỉ có thể truy cập 4GB bộ nhớ vật lý, vì thế bạn cần chuyển sang Vista 64 hoặc Linux nếu muốn có nhiều bộ nhớ hơn, nhưng nếu bạn chỉ có 4GB và muốn trung thành với bản Vista 32bit hiện có, thì mẹo này rất đáng để bạn thử sức. Tôi cần báo trước rằng các địa chỉ bộ nhớ thêm mà PAE bổ sung sẽ buộc Vista phải làm việc một chút mới có thể sử dụng được, vì thế bạn cần cân nhắc giữa lợi ích và khó khăn mà lượng bộ nhớ tăng thêm mang lại. Đối với các ứng dụng sử dụng ít bộ nhớ, PAE sẽ khiến máy tính chạy chậm lại. Tuy vậy, mẹo này rất dễ thực hiện và cũng dễ xoá bỏ, nên bạn cũng chẳng mất gì nếu dùng thử một lần. Cách kích hoạt mode PAE trong Windows Vista: Mở ô lệnh quản lý (xem mẹo số 20) Gõ dòng sau: 'bcdedit /set pae forceenable'. Khởi động lại máy tính. Vậy là Vista đã nhận được toàn bộ 4GB bộ nhớ của bạn. Nếu bạn chưa vừa lòng với mức cải thiện vừa đạt được, bạn có thể vô hiệu hoá PAE bằng cách mở lại ô lệnh quản lý và gõ 'BCDedit /set PAE forcedisable' rồi khởi động lại máy. |
|
#5
| ||||
| ||||
| 36. Dùng công cụ dọn dẹp ổ đĩa để tiết kiệm không gian Vấn đề của công cụ dọn dẹp ổ đĩa trong Vista nằm ở một file mang tên 'cleanmgr.exe'. Nếu bạn truy cập file này từ ô lệnh, ban có thể kích hoạt một số tuỳ chọn ẩn, giúp quản lý tốt hơn công việc dọn dẹp của bạn. Hãy cùng tìm hiểu cách thực hiện quá trình này. Cách dùng lệnh cleanmgr để tạo tuỳ chọn dọn dẹp ổ đĩa: Mở ô lệnh quản lý (mở menu start, gõ ‘cmd’ vào ô tìm kiếm và nhấn CTRL+SHIFT+ENTER).Gõ 'cleanmgr /sagetset: 1' và nhấn Enter. Một danh sách những thứ bạn có thể xoá bằng diskcleanup sẽ hiện ra. Chọn những chức năng không cần thiết rồi nhấn ‘ok’ để lưu profile. Khi muốn chạy chương trình dọn dẹp ổ đĩa và tống khứ những gì không dùng đến khỏi tất cả các ổ, chỉ cần gõ dòng lệnh sau: 'cleanmgr /sagerun: 1' 37. Tắt hệ điều hành nhanh hơn Khi bạn tắt Windows Vista, tất cả các dịch vụ đang chạy cũng sẽ tắt (tất nhiên rồi). Nhưng nếu một hoặc nhiều dịch vụ trong số đó đang làm việc hoặc bị treo, Windows có thể mất đến 20 giây trước khi đưa ra quyết định đóng tất cả các ứng dụng. Nhưng bạn có thể rút ngắn quá trình shutdown bằng cách giảm thời gian chờ đợi để Windows chấm dứt tất cả các quy trình đang thực hiện. Cách rút ngắn thời gian tắt ứng dụng: Mở menu 'start', gõ 'regedit' và nhấn Enter. Vào 'HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contr ol. Nhấn đúp vào 'WaitToKillServiceTimeout' DWORD để thay đổi giá trị này. Đặt khoảng thời gian từ 5000 (5 giây) đến 12000 tuỳ vào nhu cầu của bạn. Kể từ giờ, máy tính của bạn sẽ tắt nhanh hơn. 38. Vô hiệu hoá Vista sidebar Sidebar là một trong số những tính năng mới gây tranh cãi nhất trong Vista bởi số lượng lời khen mà nó nhận được cũng ngang bằng với số lời chỉ trích. Nhưng cho dù bạn có ưa thích những tiện ích dễ sử dụng hay ghét sự kềnh càng của ứng dụng này, thì bạn cũng không thể phủ nhận rằng đây là một chức năng tiêu tốn rất nhiều tài nguyên, ngay cả khi bạn chẳng dùng gì tới nó. Việc vô hiệu hoá Vista sidebar sẽ giúp tăng tốc độ và giảm thời gian khởi động máy tính của bạn đi rất nhiều. Còn nếu bnạ không muốn đi đến cùng và chấm dứt hoàn toàn chức năng này, bạn có thể sử dụng một số mẹo dưới đây để tận dụng tốt hơn sidebar cũng như các tiện ích của nó. Cách vô hiệu hoá Windows sidebar: Bấm chuột phải lên một vùng trống trong sidebar và chọn 'properties.’ Xoá tuỳ chọn 'Start sidebar when windows starts'. Nhấn OK. Nhấn chuột phải lên một vùng trống trong taskbar và chọn 'close sidebar.' 39. Đặt mức ưu tiên thấp cho sidebar Có thể bạn rất thíchVista sidebar (sao lại không cơ chứ?) nhưng lại tốn tài nguyên trong khi bnạ đang sử dụng các ứng dụng khác chẳng liên quan gì đến tính năng này? Sau đây là giải pháp cho bạn. Bạn có thể đặt cố định mức ưu tiên thấp cho Sidebar, tức là hệ điều hành sẽ không dành nhiều tài nguyên cho các ứng dụng sidebar khi bạn đang sử dụng các ứng dụng khác chiếm toàn bộ màn hình. Cách đặt cố định mức ưu tiên thấp cho sidebar trong Windows Vista: Đầu tiên, tiến hành các bước như trong mẹo số 38 để ngăn sidebar khởi động cùng lúc với Vista. Vào 'start/computer' và nhấn 'ALT' để mở taskbar menu file. Vào 'tools\folder options' và chọn tab 'view'. Trong mục 'hidden files and folders', chọn 'show hidden files and folders'. Nhấn ‘ok’. Vào 'start\computer\c:\users\(your username)\appdata\roaming\microsoft\windows\start menu\programs\startup\' Nhấn chuột phải lên thư mục trống và chọn 'new\shortcut.' Khi cửa sổ shortcut wizard xuất hiện, copy và dán dòng sau đây: C:\WINDOWS\system32\cmd.exe /c start "sidebar.exe" /LOW "C:\Program Files\windows sidebar\sidebar.exe" Rồi nhấn ‘ok’ để lưu shortcut. Giờ đây mỗi lần bạn khởi động Windows Vista, sidebar cũng sẽ khởi động, nhưng ở mức ưu tiên thấp. 40. Bỏ tiện ích RSS feed trong sidebar Ngay cả khi bạn không thực hiện thay đổi gì đối với sidebar thì bạn vẫn nên bỏ tiện ích mặc định RSS mà Microsoft đã thêm vào chức năng này. Vấn đề là ở chỗ tính năng đặc biệt này có một đặc điểm khó chịu là tự động chạy toàn bộ sau vài phút, cho dù bạn có đang làm gì chăng nữa. Việc này có thể khiến các ứng dụng khác chạy chậm lại. Cách bỏ tiện ích RSS feed: Đánh dấu tiện ích này rồi nhấn vào dấu ‘x’ nhỏ nằm trên cùng của biểu tượng. 41. Vô hiệu hoá chức năng phục hồi tự động Đây là một trong số các tính năng có chức năng rất “đáng ngờ” trong Vista. Hầu hết các kỹ thuật viên sẽ nói với bạn rằng, nếu Windows đã hỏng nặng đến nỗi phải phục hồi lại hệ thống, thì bạn chẳng cần mất công cứu chữa nó làm gì. Khởi động từ safe mode hoặc từ đĩa CD, chuyển dữ liệu ra và cài đặt lại. Do chức năng phục hồi hệ thống trong Vista không có bất cứ cải tiến gì so với người tiền nhiệm của nó trong Windows XP, bạn nên vô hiệu hoá nó để tiết kiệm không gian ổ đĩa và để tránh thất vọng sau này. Cần chú ý rằng chúng tôi không khuyên bạn ngừng việc sao lưu tự động, bởi lúc nào bạn cũng nên lưu giữ số liệu cá nhân và công việc vào một thiết bị lưu trữ vật lý riêng biệt. Chỉ có điều bạn không cần phải sao lưu file hệ thống hệ điều hành, bởi việc này chẳng đem lại ích lợi gì cả. Theo mặc định, chức năng phục hồi hệ thống chiếm khoảng 15% ổ đĩa, vì thế vô hiệu hoá nó là một việc làm có ích. Cách vô hiệu hoá chức năng phục hồi hệ thống: Mở menu 'start' và gõ 'backup'. Nhấn Enter. Trong phần bên trái, bấm 'create a restore point or change settings.' Trong mục the 'available disks', xoá tất cả các tuỳ chọn. Xác nhận và nhấn ‘ok’. 42. Vô hiệu hoá chức năng Hibernate trong máy tính để bàn Nếu bạn liên tục sử dụng máy tính để bàn hay chạy nhiều ứng dụng lặt vặt thì có thể bạn sẽ muốn vô hiệu hoá tính năng “ngủ đông” trong Vista. Việc làm này sẽ tiết kiệm được kha khá không gian đĩa. Cách tắt chức năngHibernate trong Windows Vista: Mở menu 'start menu' và gõ 'cmd' vào ô tìm kiếm nhưng không nhấn Enter. Bấm chuột phải lên shortcut ‘cmd’ khi nó xuất hiện trong số kết quả tìm kiếm và chọn 'run as administrator'. Trong dòng nhắc lệnh, gõ 'powercfg h off'. 43.Ngừng chức năng sắp xếp các Sector ( Defragment ) đĩa định kỳ Microsoft đã đơn giản hoá cơ bản giao diện tính năng chắp liền đĩa trong Vista, biến nó trở thành một quy trình tự động, bởi có đến 99% người dùng không biết chức năng Defragment là gì và cách sử dụng nó ra sao. Theo mặc định, Windows Vista sẽ chạy quy trình Defragment (tức là đảm bảo rằng tất cả các file trên ổ đĩa lấp đầy các không gian đĩa liền nhau chứ không bị chia rải rác khắp bề mặt đĩa vật lý) vào 1 giờ sáng thứ tư hàng tuần. Giả sử lúc đó bạn đang bận chơi game, thì quy trình này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tốc độ khung của trò chơi. Vì thế tốt nhất là bạn nên vô hiệu hoá quy trình này và tự tiến hành chắp liền đĩa sau khoảng 3-6 tháng. Cách vô hiệu hoá tính năng Defragment trong Windows Vista: Mở menu 'start' và gõ 'defrag' vào ô tìm kiếm. Nhấn 'Enter'. Xoá ô 'run on a schedule'. Bấm 'ok'. |
|
#6
| ||||
| ||||
| 44. Chuyển file page trong Vista để tăng tốc độ File page là một vùng trong ổ cứng được Windows lưu giữ để dùng làm bộ nhớ bổ sung. Theo mặc định, Windows sẽ quản lý vá định lại kích thước file này tuỳ theo nhu cầu. Và Vista đã làm rất tốt việc tối ưu hoá file page, nhưng bạn vẫn có thể làm tốc độ của nó tăng lên đang kể. Nếu máy tính của bạn có cài trên một ổ cứng vật lý, thì bạn có thể chuyển file page lê ổ vật lý không cài Windows Vista. Do phần lớn các lần truy cập đều liên quan đến hệ điều hành Windows, nên việc này sẽ làm giảm đáng kể số lần truy cập ổ đĩa hệ điều hành, giúp tốc độ tổng thể tăng lên. Cách chuyển file page trong Windows Vista: Bấm menu 'start' và nhấn chuột phải vào 'computer'. Chọn 'properties'.Trong phần bên trái, chọn 'advanced system settings'. Bấm tab 'advanced', rồi chọn ‘settings…’ trong mục 'performance' Tiếp tục chọn tab 'advanced', rồi nhấn ‘change…’ trong phần 'virtual memory' Xoá ô 'automatically manage paging file size for all drives'. Trong cửa sổ chứa danh sách các phần dành riêng (C:, D:…), chọn phần nằm trên ổ cứng vật lý không cài Windows. Sau đó nhấn tuỳ chọn 'system managed size' rồi bấm phím 'set' để tạo một file page trên ổ cứng vừa chọn. Bạn sẽ thấy rằng 'paging file size' cho ổ đĩa vừa chọn giờ có giá trị 'system managed' Tiếp tục chọn phần C: (giả sử rằng đây là nơi cài đặt Windows Vista). Chọn 'no paging file' và nhấn 'set'. Vậy là file page của bạn đã được di chuyển. 45. Đặt kích thước file page cố định Nếu bạn muốn khai thác tối đa file page trong Vista, bạn có thể đặt kích thước cố định cho file này. Thông thường thì hệ điều hành sẽ thay đổi kích cỡ file tuỳ từng trường hợp, nhưng quá trình này lại ảnh hưởng đến hoạt động của file cũng như khiến bạn không thể biết được file sẽ chiếm bao nhiêu dung lượng đãi. Nhưng nếu định kích cỡ file cố định, Vista sẽ không phải quản lý file page nữa, do đó sẽ thực thi các nhiệm vụ khác hiệu quả hơn. Cách đặt kích thước file page cố định: Bấm menu 'start' và nhấn chuột phải lên 'computer'. Chọn 'properties'.Trong bảng bên tay trái, chọn 'advanced system settings'. Bấm tab 'advanced’, rồi chọn mục ‘settings…’ trong phần 'performance' Tiếp tục chọn tab 'advanced', rồi nhấn ‘change…’ trong phần the 'virtual memory' Xoá ô 'automatically manage paging file size for all drives' ở đầu bảng. Chọn ổ đĩa chứa file page. Chọn kích thước file 'custom' bên dưới. Nhập kích thước file tối thiểu và tối đa vào hai ô bên dưới. Bạn nên chọn giá trị bằng 1.5 x dung lượng bộ nhớ vật lý hệ thống, ví dụ như bộ nhớ hệ thống có dung lượng 2GB, bạn nên chọn kích thước file page là 3GB. Bấm 'set' và 'ok'. 46. Định lại kích thước file page để tối ưu hoá tốc độ Nếu sau khi cài đặt Vista mà tốc độ game của bạn chậm lại, hay thời gian tải ứng dụng tăng lên thì bạn nên thử mẹo sau đây. Theo mặc định, Vista không xoá nội dung file page (vùng trên ổ cứng mà Vista dùng làm bộ nhớ RAM bổ sung). Theo thời gian, file page có thể bị phân đoạn và hoạt động kém hiệu quả hơn. bạn có thể giải quyết vấn đề này bằng cách đặt lại file thường xuyên để đảm bảo tốc độ. Cách đặt lại file page trong Windows Vista: Bấm menu 'start' và nhấn chuột phải vào 'computer'. Chọn 'properties'.Trong phần bên trái, chọn 'advanced system settings'. Nhấn tab 'advanced', rồi chọn mục ‘settings…’ trong phần 'performance' Tiếp tục chọn tab 'advanced', rồi nhấn ‘change…’ trong phần the 'virtual memory' Xoá ô 'automatically manage paging file size for all drives' ở đầu bảng. Chọn ổ đĩa chứa file page. Chọn kích thước file 'custom' bên dưới. Chuyển kích thước file tối đa và tối thiểu thành '0' và nhấn ‘set’. Khởi động lại máy tính. Mở lại cửa sổ file page và chọn ổ đĩa chứa file page. Chọn 'system managed size' và nhấn 'set'. Xác nhận giá trị và nhấn ‘ok’. 47. Chuyển mục lục tìm kiếm sang ổ đĩa khác Cũng như mẹo số 44, bạn có thể chuyển chỉ mục tìm kiếm sang ổ cứng vật lý khác để tiết kiệm dung lượng ổ và tăng tốc độ hệ thống. Cần chú ý rằng để thực hiện mẹo này, bạn cần xây dựng lại file chỉ mục, do đó tốc độ ban đầu sẽ chậm lại cho đến khi nó đạt đến kích thước file đầy đủ. Cách chuyển chỉ mục tìm kiếm sang ổ đĩa khác: Mở menu 'start' và gõ 'index' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Bấm phím 'advanced'. Bấm phần 'select new' ở cuối trang. Chọn vị trí mới trên một ổ cứng vật lý khác. Nhấn 'ok'. 48. Vô hiệu hoá cảnh báo cạn dung lượng đĩa Nếu bạn có một ổ cứng thứ hai đã đầy, hoặc một phần dành riêng sắp sửa đạt đến giới hạn dung lượng, Vista sẽ cảnh báo bạn liên tục với những thông báo pop-up nho nhỏ hiện ra trên taskbar. Tốc độ hiển thị thông báo có thể nhanh đến mức khó chịu, đặc biệt là khi hệ thống lại quét ổ đĩa vài phút một lần để cảnh báo bạn. Tuy vậy, bạn có thể dễ dàng vô hiệu hoá tính năng này. Thông báo trước: bạn cần có một khoảng không gian trống vừa đủ trên đĩa nếu như ổ đĩa đang nhắc đến là ổ C:, nơi cư trú của Windows. Nếu bạn muốn vô hiệu hoá cảnh báo này, thỉnh thoảng bạn nên để ý dung lượng file của mình. Cách huỷ cảnh báo cạn dung lượng đĩa: Mở menu 'start', gõ 'regedit' và nhấn Enter. Vào 'HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Policies' Nếu bạn thấy một phím đăng ký có tên 'Explorer’ trong mục này, hãy mở nó ra. Còn trong trường hợp ngược lại, bạn có thể tạo một phím đăng ký như vậy bằng cách nhấn chuột phải vào phần bên phải và chọn 'new/key.' Đặt tên cho key mới là 'Explorer.' Vào Explorer và tạo một giá trị DWORD mới có tên 'NoLowDiskSpaceChecks' và đặt giá trị '1'. Từ nay bạn sẽ không gặp phải những thông báo phiền toái như vậy nữa. |
|
#7
| ||||
| ||||
|
Tên File kiểu 8.3 là một phương pháp đặt tên file trong DOS và Windows 3.1 (ví dụ như myfile83.exe). Và phương pháp này đã trở nên không cần thiết kể từ khi Windows 95 ra mắt công chúng 12 năm trước đây. 49. Vô hiệu hoá tạo kiểu tên file 8.3 Tên File kiểu 8.3 là một phương pháp đặt tên file trong DOS và Windows 3.1 (ví dụ như myfile83.exe). Và phương pháp này đã trở nên không cần thiết kể từ khi Windows 95 ra mắt công chúng 12 năm trước đây. Nhưng để đảm bảo tính tương thích, chức năng này vẫn được giữ lại, và nếu như bạn đang dùng một ứng dụng DOS 16 bit chỉ nhận được tên file 8.3, bạn sẽ cần đến nó. Còn trong trường hợp ngược lại, mọi việc sẽ đúng như Microsoft thông báo: "Tính năng tạo file name và thư mục 8.3 dành cho tất cả các file name và thư mục dài trong NTFS sẽ làm giảm tốc độ thư mục.” ...Nói cách khác, nó sẽ làm chậm máy tính của bạn. Cách vô hiệu hoá chức năng tạo tên file 8.3 trong Vista: Mở menu 'start', gõ 'regedit' và nhấn Enter. Vào 'HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contr ol\FileSystem' Đổi giá trị DWORD 'NtfsDisable8dot3NameCreation' sang '1'. 50. Vô hiệu hoá chức năng cập nhật lần truy cập file cuối cùng Theo mặc định, tất cả các bản Windows sử dụng hệ thống file NTFS (tức là hầu hết các bản từ Windows 2000 trở đi) đều cập nhật thời gian mỗi khi file được truy cập. Nếu bạn không cần đến tính năng này, bạn có thể tiết kiệm chút không gian đĩa quý giá bằng cách vô hiệu hoá nó. Cần chú ý rằng đây không phải là tính năng báo hiệu thời gian file được cập nhật lần cuối 'file last modified on:’ xuất hiện mỗi khi bạn xem thông tin file trên Explorer, vì thế vô hiệu hoá chức năng cập nhật lần truy cập file cuối cùng sẽ không vô hiệu hoá thông tin này. Cách vô hiệu hoá chức năng cập nhật lần truy cập file cuối cùng: Mở menu 'start', gõ 'regedit' và nhấn Enter. Vào 'HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contr ol\FileSystem' Đổi giá trị DWORD 'NtfsDisableLastAccessUpdate' sang '1'.. 51. Vô hiệu hoá phần cứng không sử dụng Bạn có dùng firewire không? Cả kết nối Ethernet nữa? Nếu câu trả lời là không, thì có lẽ bạn nên vô hiệu hoá các phần cứng không cần thiết để tiết kiệm cài nguyên hệ thống. Đây à một quy trình đơn giản có thể đảo ngược lại bằng cài cú nhấn chuột, vì thế bạn không cần phải lo nghĩ về những hậu quả sau này của nó. Cách vô hiệu hoá phần cứng không sử dụng trong Vista: Mở menu 'start' và nhấn chuột phải vào 'computer'. Chọn 'properties'. Bấm 'device manager’ trong phần bên trái. Khi cửa sổ quản lý thiết bị mở ra, tìm bộ phận bạn muốn vô hiệu hoá. Firewire sẽ nằm ở 'ieee1394', còn tất cả các thiết bị kết nối mạng khác đều được chứa trong 'network adapters'. Để vô hiệu hoá một thiết bị, chỉ cần click chuột phải vào bộ phận đó và chọn 'disable'. Nếu bạn vô hiệu hoá nhầm thiết bị, chỉ cần trở lại cửa sổ điều khiển, nhấn chuột phải và chọn 'enable' để quay lại trạng thái ban đầu. 52. Kiểm tra thời gian khởi động và shutdown với Windows Vista Event viewer Phần lớn người dùng Vista hiếm khi dùng đến Windows Vista Event Viewer, nhưng công cụ này cũng có một số tác dụng hữu ích. Một trong số đó là chức năng kiểm tra thời gian khởi động và shutdown để so sánh với số lần trước đây. Nếu việc khởi động máy tính của bạn chậm đi rất nhiều so với lần trước, bạn có thể kiểm tra nguyên nhân của nó. Các kiểm tra thời gian khởi động và shutdown: Mở menu 'start' và gõ 'event' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Tìm tới dòng sau: 'application and service log\microsoft\diagnostics-performance\' và nhấn đúp vào log 'operational'. Giao diện lúc đầu trông có vẻ khó hiểu, nhưng đây chính là chìa khóa của vấn đề; các log được đánh số từ 100-199 cho biết quá trình khởi động máy tính, từ 200-299 liên quan đến quá trình tắt máy, và 400-499 thuộc về tốc độ hệ thống. Bấm log số '100', vào tab 'details' và chọn 'friendly view' . Tại đây bạn sẽ biết được thế giới (tính bằng ms) để hoàn thành quá trình khởi động, cũng như các bước cần thiết. bạn có thể so sánh với log số 100 lần trước để xem thời gian khởi động của bạn tăng thêm hay giảm đi sau khi thực hiện một số thay đổi trong hệ thống. Tiến hành tương tự với log 200 để kiểm tra quá trình shutdown. 53. Kiểm tra sức khoẻ hệ thống trong vòng 60 giây Microsoft đã nâng cấp tốc độ và độ ổn định trong hệ thống Vista bằng cách bổ sung chức năng báo cáo tình trạng hệ thống. Công cụ này sẽ phân tích hệ thống máy tính bằng nhiều công cụ phần cứng và phần mềm có trong hệ điều hành, rồi cung cấp cho bạn bản báo cáo chi tiết sức khoẻ hệ thống, cùng những đường link đến các thông tin bổ sung khác. Nó sẽ giúp bạn nhanh chóng tìm được nguyên nhân gây chậm tốc độ hệ thống. Cách chạy System Health Report Generator: Mở menu ‘start’ và gõ 'perform info' vào thanh tìm kiếm và nhấn Enter. Chọn 'advanced tools’ trong phần bên trái. Ở phía cuối cửa sổ, nhấn 'generate a system health report' để khởi động quá trình kiểm tra. Vậy là bạn đã biết được Vista nghĩ gì về máy tính của bạn cũng như tình trạng “sức khoẻ” của hệ thống. |
|
#8
| ||||
| ||||
|
Sau khi đã cải tiến quá trình cài đặt Windows Vista, bạn có thể đến với giao diện của hệ điều hành này. Quản lý giao diện Windows Vista Sau khi đã cải tiến quá trình cài đặt Windows Vista, bạn có thể đến với giao diện của hệ điều hành này. Giao diện Vista đem lại rất nhiều cơ hội tuỳ biến và ẩn chứa những tính năng nhỏ gọn dành cho người dùng chăm chỉ. Sau đây là một số mẹo tuỳ biến hay nhất đối với giao diện này. 54. Dùng checkbox để chọn nhiều file cùng lúc Đây là một ví dụ tiêu biểu chứng tỏ rằng bạn không nên bỏ lỡ Vista. Ẩn sau giao diện Vista tiêu chuẩn là một cách vô dùng tiện lợi để chọn nhiều file cùng lúc mà không cần dùng phím shift hay CTRL. Tất cả những gì bạn cần là checkbox. Sau khi kích hoạt tính năng này, bạn sẽ thấy một ô vuông nhỏ nằm ở góc trái của mỗi biểu tượng trong cửa sổ explorer. Chỉ cần đánh dấu ô vuông này là bạn đã chọn được file cần thiết. Tuyệt vời. Cách kích hoạt ô lựa chọn file trong Windows Vista: Vào 'start/computer'.Bấm menu 'organize' và chọn 'folder and search options'. Chọn tab 'view'. Đánh dấu tùy chọn 'use check boxes to select items'. 55. Trở lại desktop Windows cổ điển Nếu bạn không thể làm quen được với giao diện Vista hiện thời, hoặc nếu bộ nhớ của bạn chỉ còn 1GB và bạn cần tăng tốc desktop, hãy thử kích hoạt giao diện Windows Classic. Dưới đây là quy trình hai bước để thay đổi cả thiết lập màn hình và menu start. Cần chú ý rằng mặc dù trong XP, 'classic interface' là giao diện Windows 2000, nhưng trong Vista thì đây lại là giao diện XP. Cách chuyển sang giao diện Windows cổ điển: Nhấn chuột phải vào menu 'start' và chọn 'properties'. Nhấn 'classic start menu' và chọn 'ok'. Bấm chuột phải lên một vùng trống trên desktop và chọn 'personalize.' Chọn 'theme'. Trong ô 'theme', chọn 'Windows Classic.' Bấm 'ok'. Vậy là toàn bộ giao diện Vista phức tạp đã biến mất. 56. Giảm thời gian mở menu start Nếu giao diện Vista hiện thời có vẻ quá chậm chạp, bạn có thể cải thiện nó bằng cách tăng tốc độ của menu start. Cách giảm thời gian mở menu start: Mở menu 'start', gõ 'regedit' và nhấn Enter. Chuyển sang 'HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop' Nhấn đúp vào giá trị 'MenuShowDelay' và chuyển giá trị này sang 150. 57. Vô hiệu hoá thumbnail bắt buộc Theo mặc định, Windows Vista sẽ gán cho mỗi thư mục một thumbnail, đây có thể là một điều tốt, nhưng cũng có thể gây ra nhiều rắc rối nếu bạn có quá nhiều file và quá ít bộ nhớ. May mắn thay, bạn có thể dễ dàng quay trở lại explorer theo kiểu XP, khi các thumbnail chỉ mang tính tuỳ chọn chứ không hề bắt buộc. Cách vô hiệu hoá thumbnail bắt buộc: Vào 'start/computer. Mở menu 'organize' và chọn 'folder and search options.' Nhấn tab view và đánh dấu tuỳ chọn 'always show icons, never thumbnails' ở trên cùng. Nhấn 'ok.' 58. Bỏ những tính năng không cần thiết Cũng như phần lớn các hệ điều hành của Microsoft, Vista giống như một cái bồn rửa bát, chứa nhiều phần mềm và ứng dụng hơn so với nhu cầu của bạn. Vì thế hãy tìm hiểu cách sắp xếp lại chiếc PC Vista PC của mình để tiết kiệm chút không gian ổ đĩa bằng cách bỏ bớt những ứng dụng thừa. Cách bỏ những tính năng không cần thiết: Vào 'start/control panel/programs/uninstall a program' Trong sidebar, bấm 'turn windows features on and off'. Một danh sách các tính năng tuỳ chọn sẽ hiện ra. Nói chung, bạn nên gỡ bỏ game, tính năng sao lưu file DFS, và các công cụ tablet. |
|
#9
| ||||
| ||||
|
Một trong số những cải tiến mà Microsoft đã áp dụng với Windows Vista chính là những tính năng của bộ cung cấp tự điều chỉnh, đã xuất hiện lần đầu trong Windows XP. 59. Khởi động trực tiếp task manager Windows Vista đã thay đổi chức năng của tổ hợp phím CTRL+ALT+DEL truyền thống. Thay vì mở trực tiếp task manager, ba phím này lại dẫn bạn đến một menu tuỳ chọn rộng hơn. Nếu bạn muốn truy cập trực tiếp task manager, chỉ cần nhấn CTRL+SHIFT+ESC thay cho ba phím trước đây. 60. Chạy tiện ích sidebar mà không mở sidebar Mẹo này thuộc loại “Thế mà trước đây mình không để ý!” Bạn không cần tốn không gian vật lý của sidebar để chạy tiện ích Microsoft sidebar nữa. Chỉ cần bấm vào tiện ích cần dùng, kéo nó khỏi sidebar, đặt lên desktop và thế là bạn có thể đóng sidebar lại, tiết kiệm không gian mà vẫn dùng được tiện ích ưa thích của mình. Điều quan trọng là khi thực hiện mẹo này và đóng sidebar lại, nó vẫn nằm trong bộ nhớ, tức là bạn không thể vô hiệu hoá hoàn toàn sidebar như trong mẹo số 38 mà vẫn giữ được tiện ích cần dùng. 61. Sao lưu toàn bộ máy tính với Vista Backup and restore (chỉ có trong bản Vista Business vàd Ultimate) Nếu bạn dùng ổ USB hoặc ổ eSATA, bạn có thể dùng mẹo này để khởi động máy tính theo ý thích. Vista Business và Ultimate đều cho phép bạn tạo lập hình ảnh sao lưu của toàn bộ dữ liệu, ứng dụng, và toàn bộ những gì trên máy tính của bạn. Nó chiếm khá nhiều không gian, vì thế bạn cần dành cả một ổ cứng cho việc này. Nhưng với sự thanh thản nó đem lại cho bạn, thì cũng rất đáng để bạn thử một phen. Theo tôi, bạn nên tách riêng Phân vùng dữ liệu và Phân vùng hệ thống. Đầu tiên hãy sao lưu các Phân vùng hệ thống trước, sau đó đến Phân vùng dữ liệu vào một bộ phận lưu trữ ngoài máy tính. Cách sao lưu toàn bộ hệ thống: Mở menu 'start' và gõ 'backup' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Bấm 'backup computer'. Bạn có thể chứa dữ liệu sao lưu vào một ổ cứng riêng hoặc một đĩa DVD. Nếu theo cách thứ hai, bạn sẽ phải dùng ít nhất 5-10 DVD cho một hệ thống Vista tiêu chuẩn, vì thế đây không phải là một lựa chọn tốt. Sau khi đã chọn Phân vùng để sao lưu, chỉ cần nhấn ‘ok’ và làm theo chỉ dẫn để tạo hình ảnh sao lưu. 62. Các phím nóng không thể thiếu trong Vista Dưới đây là danh sách một số phím nóng cơ bản giúp bạn làm việc với Vista nhanh chóng hơn: WIN+ (1-10): ứng với 10 mục đầu tiên trên thanh quicklaunch, tức là WIN+1 sẽ thu nhỏ toàn bộ lên destop. Thật là tiện lợi! WIN+SPACE: đưa Vista sidebar ra phía trước. WIN+G: vào tiện ích Sidebar WINKEY+TAB: giao diện Flip 3D CTRL+WINKEY+TAB: duy trì Flip 3D ALT+TAB: chuyển từ cửa sổ này sang cửa sổ kia, hoặc giữa hai lần truy cập cuối cùng. ALT+Print Screen: chụp ảnh màn hình hoặc chỉ một cửa sổ trong tiêu điểm (cửa sổ đang hoạt động) thay vì toàn bộ desktop. Tất nhiên chúng ta không thể quên được những phím nóng cũ: CTRL+A: chọn toàn bộ, CTRL+C: copy, CTRL+V: dán... Ba tổ hợp phím trên, cùng với ALT+Tab có thể đẩy tốc độ thao tác dữ liệu giữa các cửa sổ hoặc các văn bản khác nhau lên rất nhiều. Cần chú ý rằng phần lớn các shortcut trong Windows XP vẫn dùng được trong Windows Vista, ngoại trừ một số tổ hợp phím mới chỉ có trong Vista. Để có được danh sách toàn bộ các shortcut trong Vista, hãy bấm vào đây. 63. Đưa lệnh Run vào menu start Nếu bạn thấy rằng mình không thể sống thiếu lệnh ‘run’ từ menu start theo kiểu XP, bạn có thể dễ dàng khôi phục lại phong cách này. If Cách Đưa lệnh Run vào menu start: Bấm chuột phải lên menu ‘start’ và chọn 'properties.' Chọn tab 'start menu'. Nhấn phím 'customize'. Đánh dấu tuỳ chọn 'run command' và nhấn 'ok'. 64. Dùng 'resource overview' trong Windows Vista Trong Vista, chức năng quản lý tốc độ Windows đã được cải thiện rất nhiều, chứa một lượng lớn thông tin về máy tính của bạn, miễn là bạn biết cách xử lý các thông tin này để khai thác chúng dễ dàng hơn. Trong đó tính năng dễ hiểu và có ích nhất là báo cáo tài nguyên hệ thống. Nó cho biết % dung lượng CPU, bộ nhớ, mạng lưới và ổ cứng đang được sử dụng, cho phép bạn kiểm tra file và các quy trình đang tiêu tốn tài nguyên hệ thống trong thời gian thực. Hãy tìm hiểu cách sử dụng chức năng này. Cách mở cửa sổ kiểm tra tài nguyên: Mở menu 'start' và gõ 'monitor' vào ô tìm kiếm, nhấn Enter. Chào mừng đến với màn hình kiểm tra tài nguyên. Như bạn đã thấy, 4 cửa sổ dưới đây ứng với 4 vùng phần cứng cơ bản trong hệ thống, cho bạn biết chúng đã hoạt động ra sao trong vòng 60 giây qua. Hãy thử tìm hiểu sâu hơn một chút. Nếu nhấp đúp vào một trong 4 màn hình, bạn sẽ thấy tiêu đề tương ứng sẽ mở rộng và cung cấp cho bạn nhiều thông tin hơn. Với CPU, chúng ta có thể biết chính xác quy trình nào đang diễn ra trong phút vừa qua, và chiếm bao nhiều % CPU. Còn với ổ cứng, ta sẽ biết những file nào đã được đọc và ghi, cùng dung lượng của chúng. Với hoạt động mạng, ta sẽ biết được các kết nối mạng đang diễn ra và lượng dữ liệu trao đổi (rất hữu ích cho việc phát hiện spyware/trojan virus). Cuối cùng, với bộ nhớ, bạn sẽ biết mỗi quy trình đang hoạt động tiêu thụ bao nhiêu dung lượng bộ nhớ, và bao nhiêu trong số đó có thể chia sẻ với các ứng dụng khác. Nói chung, đây là bảng tổng quan đầy đủ về các hoạt động đã diễn ra trong hệ thống của bạn. 65. Dùng công cụ kiểm tra tính ổn định của Vista để phát hiện vấn đề hệ thống Một trong số những cải tiến mà Microsoft đã áp dụng với Windows Vista chính là những tính năng của bộ cung cấp tự điều chỉnh, đã xuất hiện lần đầu trong Windows XP. Trong khi phần lớn các cải tiến chỉ bổ sung một số tính năng mới vào các chương trình sẵn có như chương trình quản lý tốc độ, thì có một sự bổ sung hoàn toàn mới chắc chắn sẽ thu hút sự chu sý của bạn: công cụ kiểm tra tính ổn định của Windows Vista. Đây là một log gồm tất cả các lỗi phần cứng, phần mềm, các hoạt động bất thường trong hệ thống, cùng danh sách các phần mềm đã được cài đặt hoặc gỡ bỏ, nằm trong một format log hằng ngày kết hợp với một chỉ số đo độ ổn định hiện thời so với các thời điểm khác. Đây là một công cụ tuyệt vời cho việc giải quyết lỗi Windows và quản lý trạng thái máy tính. Cách mở Vista reliability checker: Mở menu 'start' và gõ 'monitor' vào ô tìm kiếm. Nhấn Enter. Nhấn đúp lên link 'reliability monitor' trong phần bên trái. Giao diện này rất dễ hiểu, vì thế bạn nên bỏ thời gian khám phá nó. Chắc chắn bạn sẽ tìm được điều gì đó thú vị, đặc biệt nếu bạn thường xuyên gặp lỗi. Đặc biệt, với công cụ này bạn còn có thể tìm được gốc gác vấn đề và tìm ra nguyên nhân lỗi. |
|
#10
| ||||
| ||||
Nếu bạn đã chán ngấy âm thanh “báo động” trong Windows Vista, bạn có thể dễ dàng thay thế chúng bằng các cảnh báo hình ảnh, giúp công việc của bạn trở nên đỡ căng thẳng hơn. 66. Vô hiệu hoá âm thanh và bổ sung hình ảnh cảnh báo Nếu bạn đã chán ngấy âm thanh “báo động” trong Windows Vista, bạn có thể dễ dàng thay thế chúng bằng các cảnh báo hình ảnh, giúp công việc của bạn trở nên đỡ căng thẳng hơn. Cách vô hiệu hoá cảnh báo âm thanh và thay bằng cảnh báo hình ảnh: Mở menu 'start' và gõ 'ease' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Cuộn xuống và bấm 'use text or visual alternatives for sound.' Đánh dấu 'turn on visual notifications for sound (sound sentry)' và chọn loại hình bạn thích trong danh sách bên dưới. 67. Tạo biểu tượng shutdown và khởi động lại trên màn hình Nếu bạn đã chán hộp thoại shutdown trong menu start của Vista và muốn khởi động lại máy tính theo cách đơn giản hơn, bạn có thể tạo biểu tượng shutdown và restart ngay trên màn hình. Cách làm: Bấm chuột phải lên một vùng trống trên màn hình và chọn ‘new\shortcut'. Trong text box định vị, gõ 'Shutdown.exe -s -t 00' để tạo biểu tượng shutdown và ' Shutdown.exe -r -t 00' để tạo biểu tượng restart. Nhấn ‘next’ và đặt cho shortcut mới một cái tên dễ nhớ như "shutdown". 68. Những sidebar nên (và không nên) dùng Nếu bạn thích thú với Vista Sidebar và muốn khai thác tối đa tiềm năng của công cụ này, chúng tôi có một số lời khuyên sau dành cho bạn (hãy đảm bảo rằng bạn đã bỏ tiện ích RSS như trong mẹo số 40). Đầu tiên, hãy thử những công cụ sau trong sidebar: Công cụ tối ưu hoá CPU, bộ nhớ và ổ cứng tại Feebdack.com. Công cụ tìm kiếm Wikipedia tại Windows Live.com. Công cụ quản lý hệ thống từ Sidebar tại Windows Live.com. Một chiếc máy tính đơn giản và dễ sử dụng cho sidebar tại Hacki.st. 69. Chạy ứng dụng với quyền điều hành chỉ bằng vài phím đơn giản Nếu bạn không muốn vô hiệu hoá UAC, nhưng lại lấy làm bực mình khi hệ thống liên tục ngắt quãng và tra hỏi bạn mỗi khi bạn định thay đổi chương trình gì trong Vista, bạn có thể sử dụng shortcut đơn giản dưới đây. Nếu dùng mẹo số 13, bạn cần dùng lệnh tìm kiếm trong menu start để khởi động hầu hết các ứng dụng, vì thế mẹo dưới đây sẽ nhanh gọn hơn. Sau khi gõ tên ứng dụng bạn cần khởi động vào ô tìm kiếm, bạn cần giữ 2 phím CTRL và SHIFT rồi mới nhấn Enter. Như vậy bạn đã khởi động ứng dụng với quyền quản lý. 70. Lập cấu hình Windows Vista autoplay phù hợp với nhu cầu Menu Windows Vista autoplay có nhiều tuỳ chọn hữu ích hơn so với người tiền nhiệm của nó trong Windows XP, nhưng vẫn khiến bạn mất thời gian điều chỉnh mỗi lần sử dụng. Tuy nhiên, Microsoft cũng đã bổ sung một tiện ích cấu hình đơn giản giúp bạn thiết lập tuỳ chọn ưa thích đối với mỗi loại phương tiện sử dụng. Cách thiết lập autoplay: Mở menu 'start' và gõ 'autoplay' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Trong màn hình này, bạn có thể chọn hành động cần tiến hành mỗi khi sử dụng từng loại phương tiện. Nên bỏ trống ô 'use autoplay for all media and devices' ở trên cùng trừ khi bạn muốn vô hiệu hoá toàn bộ chức năng autoplay. Tiến hành như bình thường với những tuỳ chọn còn lại. Sau khi hoàn thành, nhấn ‘save’ để lưu lại các thay đổi. 71. Vô hiệu hoá thông báo an ninh Nếu bạn đã thử vài mẹo trong bài báo này, như vô hiệu hoá UAC chẳng hạn, thì có lẽ bạn cũng phát chán những thông báo an ninh Windows thỉnh thoảng lại hiện ra trong taskbar và tra hỏi bạn về những gì vừa thực hiện, bạn có thể vô hiệu hoá chúng theo cách sau đây: Cách vô hiệu hoá thông báo an ninh trong Windows Vista: Mở menu 'start' và gõ 'service.msc' vào thanh tìm kiếm. Không nhấn Enter. Đưa chuột đến 'services.msc', nhấn chuột phải và chọn 'run as administrator' (nếu như bạn chưa vô hiệu hoá UAC như trong mẹo số 1, còn nếu bạn đã thực hiện mẹo này, thì bạn không cần đến ‘run as administrator’). Trong cửa sổ dịch vụ vừa mở ra, chọn 'Security Center', nhấn chuột phải và chọn 'properties'. Trong ô 'startup type', chuyển giá trị sang 'disabled', rồi bấm phím 'stop' bên dưới để ngưng sử dụng ứng dụng ngay lập tức. Nhấn 'ok.' 72. Thay đổi con trỏ cuộn Nếu ngón tay của bạn đã sưng tấy vì phải liên tục lăn con trỏ chuột qua hàng đống website và văn bạn, có thể bạn sẽ muốn thay đổi độ cài con trỏ cuộn trong Windows Vistal. Theo mặc định, hệ điều hành sẽ lăn 3 dòng mỗi lần cuộn, nhưng nếu bạn muốn di chuyển nhanh hơn, thì đây là cách dễ dàng để thay đổi tốc độ của nó: Cách tăng tốc độ cuộn trong Vista: Mở Regedit (mở menu 'start' và gõ 'regedit.') Vào 'HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop' Tìm giá trị 'WheelScrollLines' và nhấp đúp vào để thay đổi giá trị này. . Bạn đặt giá trị càng cao thì con trỏ cuộn càng nhanh, nhưng cần khởi động lại để giá trị này đi vào hoạt động. 73. Bổ sung Encrypt / Decrypt vào menu chuột phải Windows Vista có tích hợp chức năng mã khoá có thể được dùng để ‘khoá’ các file hoặc thư mục nhất định để chỉ một tài khoản người dùng duy nhất có thể truy cập. Cách mã khoá này không dựa trên password mà dựa trên tài khoản, vì thế bạn sẽ không thể truy cập file trừ khi bạn đăng nhập với username và password đó. Tuy nhiên, việc truy cập tùy chọn mã khoá theo mặc định trong Vista hơi mất thời gian một chút. Vì thế, để làm cho quá trình mã khoá trở nên dễ dàng hơn, bạn có thể đặt lệnh mã khoá lên Menu Context. Chú ý: bạn nên cẩn thận với việc mã khoá bởi bạn có thể vĩnh viễn mất quyền truy cập những file quan trọng. Cách thêm lệnh mã khoá/mở khoá vào menu chuột phải: Mở Regedit (mở menu 'start' và gõ 'regedit.') Vào 'HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Explorer\Advanced' Tạo giá trị DWORD mới có tên 'EncryptionContextMenu' và đặt cho nó giá trị 1. 74. Vô hiệu hoá 'GUI boot' để khởi động nhanh hơn Bạn có thể vô hiệu hoá thanh báo hiệu nhỏ mỗi lần khởi đông Windows để tiết kiệm vài giây đồng hồ quý giá. Cách vô hiệu hoá Vista GUI boot: Mở menu 'start' và gõ 'msconfig' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Khi cửa sổ MSConfig mở ra, tiếp tục vào tab 'boot'. Đánh dấu 'No GUI boot' và nhấn 'ok'. 75. Đưa tài khoản Ddministrator tới màn hình Welcome Vista được thiết kế để bạn không cần sử dụng đến tài khoản Administrator mặc định nữa. Thật không may, đổi lại chúng ta lại gặp phải UAC - một tính năng khó chịu đã được đề cập trong bài báo này. Nếu bạn muốn sử dụng tài khoản Administrator để trực tiếp thực hiện thay đổi, bạn có thể mắc kẹt bởi tài khoản này bị vô hiệu háo theo mặc định. Hãy cùng tìm hiểu cách đưa tài khoản Administrator mặc định lên thành một trong số các tuỳ chọn trên màn hình khởi động, để bạn có thể sẵn sàng sử dụng mỗi khi cần đến. Để đưa tài khoản Administrator lên màn hình đăng nhập, chúng ta cần thực hiện hai bước: thêm password vào tài khoản quản lý và kích hoạt nó. Cách thêm password vào tài khoản quản lý và khiến nó hoạt động: : Mở menu 'start menu' và gõ 'cmd' vào thanh tìm kiếm nhưng không nhấn Enter. Nhấn chuột phải vào shortcut ‘cmd’ trong số kết quả tìm kiếm và chọn 'run as administrator'. Trong ô lệnh, gõ 'Net user administrator (password)', trong đó (password) chính là password bạn muốn đặt cho tài khoản quản lý. Không đưa dấu ngoặc đơn vào. Nhấn Enter. Cũng trong ô lệnh này, gõ 'Net user administrator /active:yes' và nhấn Enter. Vậy là tài khoản quản lý sẽ xuất hiện trên màn hình khởi động và có thể sử dụng bất cứ lúc nào. |
|
#11
| ||||
| ||||
|
Thực ra đây không hẳn là một cách để tăng tốc độ, nhưng nó khiến thao tác với Vista trở nên dễ dàng hơn rất nhiều nếu bạn có thói quen nghe nhạc trong khi đang chạy các ứng dụng khác. 76. Điều chỉnh mức âm lượng cho từng ứng dụng Thực ra đây không hẳn là một cách để tăng tốc độ, nhưng nó khiến thao tác với Vista trở nên dễ dàng hơn rất nhiều nếu bạn có thói quen nghe nhạc trong khi đang chạy các ứng dụng khác. Bảng điều khiển audio trong Vista cho phép bạn điều chỉnh âm lượng cho từng ứng dụng đang dùng, tức là bạn có thể tắt hoặc giảm âm thanh game để dành toàn bộ cho âm nhạc. Tuyệt vời. Cách truy cập bảng điều khiển âm thanh Windows Vista: Nhấn chuột phải lên biểu tượng 'volume' trên taskbar và chọn 'open volume mixer'. Tại đây bạn có thể điều chỉnh loa tổng thể và âm lượng của từng ứng dụng. 77. Hiển thị chương trình DVD sao lưu trong Vista Media Center (chỉ áp dụng đối với Vista Home Premium và Ultimate) Đây cũng không phải mẹo tăng tốc độ, nhưng nó giúp giảm phiền toái trong thiết lập mặc định của Windows Vista Media Centre. Theo mặc định, Media Center sẽ không tìm lại và hiển thị chương trình DVD mà bạn vừa sao lưu vào ổ cứng. May mắn là bạn có thể khắc phục điều này bằng vài thao tác đơn giản. Cách kích hoạt chương trình DVD lưu trong Media Center: Mở Regedit và vào 'HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Media Center\Settings\DvdSettings'. Nhấn đúp lên 'ShowGallery' và chuyển giá trị này sang 'Gallery'. Giờ đây DVD gallery sẽ được hiển thị trong Media Center và cho biết những DVD bạn lưu trữ trong thư viện. 78. Khám phá công cụ ẩn trong menu context của Vista Menu chuột phải của Vista sẽ hé lộ rất nhiều bất ngờ thú vị nếu bạn giữ chuột và nhấn phím SHIFT. Trong một file, phím SHIFT bổ sung tuỳ chọn đưa file vào menu start, thêm vào Quicklaunch hoặc lưu tên và địa chỉ dưới dạng text để dán vào các văn bản khác. Còn trong một thư mục, nó giúp bổ sung tuỳ chọn copy dưới dạng text, cùng với tính năng hiện ô lệnh trong thư mục đang dùng. 79. Trở thành người dùng quyền lực Nếu bạn vẫn còn lo lắng về hậu quả của việc vô hiệu hoá UAC, nhưng lại muốn loại bỏ những shortcut khó chịu mà ứng dụng này mang lại, bạn có thể dùng cách khác: thuyết phục hệ điều hành rằng bạn chính là người điều hành đích thực của nó chỉ bằng một câu lệnh. Cách kích hoạt quyền điều hành với tài khoản người dùng bình thường trong Vista: Mở ô lệnh điều hành (xem mẹo số 20) Gõ 'net user administrator activate:yes' và nhấn Enter. 80. Thay đổi phím khởi động Một trong số những rắc rối mà người dùng Vista gặp phải khi lần đầu sử dụng hệ điều hành này là việc phím power thân thuộc trên menu start lại không có tác dụng tắt máy hoàn toàn. Thay vào đó, hệ thống của bạn sẽ chìm vào một giấc ngủ sâu, và chủ nhân của nó chỉ còn cách chờ cho đến khi hệ thống “tỉnh dậy” mới có thể tắt máy hoàn toàn được. May là bạn có thể dễ dàng thay đổi phím power để quay về chức năng hữu ích như xưa. Cách làm phím power trong menu start hoạt động như cũ: Mở 'start\control panel.' Bấm chọn 'classic view' trong phần bên trái Mở 'power options.' Chọn 'change plan settings.' Tiếp tục nhấn 'change advanced power settings.' Mở rộng mục 'power buttons and lids'. Tiếp tục mở rộng mục 'start menu power button.' Đổi giá trị 'setting' sang 'shutdown.' Bấm OK. Giờ đây phím power đã thực sự trở lại là phím power. |
|
#12
| ||||
| ||||
|
Đây cũng không phải mẹo tăng tốc độ, nhưng nó sẽ cho phép bạn quan sát được điều gì đang diễn ra trong quá trình tắt Windows Vista, giúp bạn tăng tốc độ shutdown của mình. Khi sử dụng mẹo này, Vista sẽ thông báo cho bạn điều gì đang diễn ra bằng các thông báo chữ trên màn hình shutdown. 81. Kích hoạt thông báo shutdown đầy đủ (chỉ dùng cho Vista business và Ultimate) Đây cũng không phải mẹo tăng tốc độ, nhưng nó sẽ cho phép bạn quan sát được điều gì đang diễn ra trong quá trình tắt Windows Vista, giúp bạn tăng tốc độ shutdown của mình. Khi sử dụng mẹo này, Vista sẽ thông báo cho bạn điều gì đang diễn ra bằng các thông báo chữ trên màn hình shutdown. Cách kích hoạt thông báo shutdown đầy đủ: Mở menu 'start' và gõ 'gpedit.msc' vào thanh tìm kiếm. Nhấn Enter. Trong cửa sổ vừa mở, vào 'computer configuration\administrative template\system' rồi tìm tuỳ chọn 'verbose vs. normal status messages' phía bênphải. Nhấn đúp và chọn 'enable'. Nhấn ok. 82. Điều chỉnh tốc độ màn hình Vista theo nhu cầu Dù bạn có sử dụng giao diện Aero 3D hay không thì bạn vẫn có thể thay đổi rất nhiều nhân tố trên màn hình Vista tùy theo nhu cầu và sơ rthích, hoặc bỏ bớt tính năng để tăng tốc cho chiếc máy tính giá rẻ của mình. Tất cả những tuỳ chọn trên đều nằm trong một menu nhỏ gọn thuộc nhóm tính năng nâng cao của tuỳ chọn ‘computer’ trong menu Start. Cách điều chỉnh thiết lập tốc độ màn hình Vista: Mở menu 'start' và bấm chuột phải lên 'computer'. Chọn 'properties'. Bấm 'advanced system settings' phía bên tay trái. Vào tab 'advanced' và chọn ‘settings…’ trong phần 'performance'. Trong tab 'visual effects', bạn sẽ thấy một dãy các thiết lập có thể vô hiệu hoá để tăng tốc màn hình, hoặc bạn có thể chọn 'adjust for best performance option' nếu gặp vấn đề khó giải quyết trong Vista. 83. “Tăng tốc tối đa cho Vista “ (thực tế không phải là như vậy) Chỉ số WEI ( Windows Experience Index ) do chương trình WinSat đưa ra. WinSat lưu trữ kết quả vào một file XML trên ổ cứng, sau đó WEI sẽ đọc những kết quả này để cho ‘điểm’ trên cửa sổ công cụ và thông tin tốc độ. Nhưng bạn sẽ thích hơn nếu những điểm đạt được là 9.9 Mở menu 'start' và gõ 'wordpad' vào thanh tìm kiếm. Nhấn chuột phải lên 'wordpad.exe’ trong phần kết quả và chọn 'run as administrator.' Khi wordpad mở ra, vào 'file\open' và chuyển đến 'c:\windows\performance\winsat\datastore'. Thay đổi mục loại file thành 'all files...' . Mở file có ngày gần nhất. Chỉnh dòng từ thứ 12 đến thứ 19 và thêm bất kỳ giá trị nào ban muốn (theo dạng #.#) rồi lưu file. Tiếp tục mở cửa sổ thông tin tốc độ hệ thống (vào 'start' rồi gõ 'performance info') và nhẫn 'update my score.’ Sau khi quá trình cập nhật hoàn thành, điểm số mới của bạn sẽ hiện ra! (Chú ý rằng mẹo này chẳng ảnh hưởng gì tới tốc độ thực của máy tính, nhưng nhìn điểm số cao chẳng phải vui hơn sao!) Tuỳ biến giao diện Vista Aeroglass 84. Vô hiệu hoá Aeroglass (Tất cả các phiên bản chỉ trừ Vista Basic) Nếu giao diện Aeroglass trong card video của bạn hoạt động không được tốt lắm, hoặc nếu bạn thiếu bộ nhớ hệ thống, hay chán ghét tất cả những thứ màu mè phô trương, bạn có thể vô hiệu hoá giao diện Aero 3D của nó một cách dễ dàng. Cách vô hiệu hoá giao diện Aeroglass: Bấm chuột phải lên một vùng trống trên desktop rồi chọn 'personalize'. Chọn 'window colour and appearance', rồi 'open classic appearance properties for more options.' Trong menu thả, chọn 'Vista Basic' và nhấn 'OK'. 85. Tắt hiệu ứng trong suốt trong Aero (Tất cả các phiên bản chỉ trừ Vista Basic) Nếu bạn rất thích giao diện của Aero nhưng lại gặp khó khăn trong việc tăng tốc độ, bạn có thể vô hiệu hoá hiệu ứng trong suốt. Hiện tại, đây là bộ phận chuyên sâu của bộ vi xử lí đồ hoạ nhất của giao diện, vì thế bạn có thể đảm bảo hiệu quả mà vẫn không khiến tốc độ bị chậm lại khi vô hiệu hoá nó. Cách tắt hiệu ứng trong suốt trong Aero: Nhấn chuột phải vào một vùng trống trên desktop và chọn 'personalize.' Nhấn tùy chọn 'window colour and appearance'. Xoá ô 'enable transparency'. 86. Vô hiệu hoá cửa sổ hiệu ứng động min/max trong Aero (Tất cả các phiên bản chỉ trừ Vista Basic) Một ứng dụng chiếm nhiều tài nguyên của bộ vi xử lí đồ hoạ không kém trong giao diện Aero là hiệu ứng min/max. Nếu bạn muốn giữ nguyên giao diện mượt mà của Aero, nhưng lại không muốn tốc độ chậm lại mỗi khi thao tác trong cửa sổ, hãy thử vô hiệu hoá tính năng này. Cách vô hiệu hoá cửa sổ min/max trong Aero: Mở menu 'start' và nhấn chuột phải lên 'computer.' Chọn 'properties'. Chọn 'advanced system settings' trong phần bên trái. Chọn tab 'advanced'. Nhấn ‘settings…’ trong mục 'performance'. Xoá ô 'animate windows when minimizing or maximizing'. So với Windows XP, mạng Vista được tối ưu hoá hiệu quả hơn, nhưng bạn vẫn có thể cải tiến thêm bằng một số mẹo đơn giản sau: Thay đổi hiệu suất với mạng và Internet So với Windows XP, mạng Vista được tối ưu hoá hiệu quả hơn, nhưng bạn vẫn có thể cải tiến thêm bằng một số mẹo đơn giản sau: 87. Download đồng thời nhiều file hơn trong Internet Explorer 7 Cũng như trong Windows XP, phiên bản Internet Explorer trong Windows Vista bị giới hạn trong hai liên kết mạng cùng một lúc tới cùng một máy chủ Internet. Điều này cũng không ảnh hưởng lắm đén hoạt động của bạn, nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc các website lớn và phức tạp sẽ mất nhiều thời gian hơn để truy cập, và bạn sẽ chỉ download được tối đa 2 file từ cùng một địa chỉ. Nhưng điều này có thể khắc phục dễ dàng. Cách tăng số lượng download đồng thời trong IE 7: Mở Regedit và vào 'HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Internet Settings. Tạo giá trị Dword với tên gọi 'MaxConnectionsPer1_0Server' và đặt cho nó một giá trị giữa 3 và 5. Tạo một Dword khác có tên 'MaxConnectionsPerServer' và đặt cho nó vẫn giá trị đó. Đóng Regedit và khởi động lại IE để khai thác tốt hơn băng thông của bạn. 88. Download nhiều file cùng lúc trong Firefox Nếu bạn thích dùng Firefox (cũng bị giới hạn tối đa download 2 file trên cùng một máy chủ như IE7), thì dưới đây là các khắc phục theo kiểu Firefox: Mở Firefox và gõ 'about:config' vào thanh địa chỉ. Kéo xuống phần 'network.http.max-persistent-connections-per-server'. Nhấn đúp vào phần này và chuyển giá trị từ 4 sang 10. Khởi động lại Firefox. 89. Khắc phục lỗi copy file trong Windows Vista Vista có thể gặp một số vấn đề khi gửi file lớn trong mạng lưới. Nguyên nhân của tình trạng này là một tính năng mới trong Vista mang tên 'receive window auto-tuning', cho phép Vista đặt động định kích cỡ mỗi gói dữ liệu gửi và nhận qua hệ thống để phù hợp với băng thông hiện có. Đây là một điều tốt. Tuy vậy, các thiết bị kết nối cũ kỹ có thể gặp vấn đề với công nghệ mới này và từ chối hợp tác, dẫn đến tình trạng rớt file, giảm đốc độ và nhiều thứ khó chịu khác. Nếu bạn vẫn gặp khó khăn trong việc gửi file cỡ lớn, và thỉnh thoảng bị ngắt kết nối với những ứng dụng như Messenger, bạn nên hạn chế hoặc vô hiệu hoá tính năng tự điều chỉnh cửa sổ nhận bằng cách sau đây: Mở cửa sổ ô lệnh với quyền Administrator (xem mẹo số 20) Gõ 'netsh interface tcp set global autotuninglevel=restricted' và nhấn Enter. Nếu mọi rắc rối đã chấm dứt, bạn có thể nghỉ ngơi. Nhưng nếu bạn vẫn tiếp tục gặp vấn đề khi gửi và nhận file, bạn nên mở lại ô lệnh điều hành và gõ 'netsh interface tcp set global autotuninglevel=disabled'. 90. Vô hiệu hoá IPV6 trong Windows Vista Windows Vista là hệ điều hành đầu tiên của Microsoft sử dụng tính năng IP Version 6 làm giao thức mạng mặc định., mặc dù gần như chẳng có việc gì cần đến nó cả. Do mỗi giao diện mạng bạn dùng đều chạy cả IPV6 và TCP/IP tiêu chuẩn theo mặc định, sẽ không có lý do gì để bạn giữ lại giao thức không cần thiết này cả. Cách vô hiệu hoá IPV6 trong Windows Vista: Mở Regedit và vào 'HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Servi ces\tcpip6\Parameters\ Bấm chuột phải vào vùng trống bên cửa sổ tay phải và chọn 'new \ DWORD value'. Đặt giá trị DWORD là 'DisabledComponents' and give it the value '0xFF' Cuối cùng, khởi động lại hệ thống để lưu mọi thay đổi. 91. Phím Refresh cho tìm kiếm mạng không dây Màn hình 'searching for wireless networks' trong Vista không có phím refresh, và có thể làm bực mình những ai không đủ kiên nhẫn để đợi màn hình tự refresh. May mắn là bạn chỉ cần nhấn F5 là màn hình sẽ tự động được refresh. |
|
#13
| ||||
| ||||
| Vista cho máy tính xách tay 92. Vô hiệu hoá chức năng quản lý nhiều màn hình ( TMM ) để tiết kiệm thời gian khởi động Microsoft đã đưa TMM ( Transient Multi-Monitor ) vào Vista để giúp người dùng thiết bị di động dễ dàng kết nối và ngắt kết nối khỏi một trong số những màn hình riêng biệt. Chức năng chính của nó là nhận diện màn hình vừa được nối, và đưa ra một hộp thoại cho phép người dùng dễ dàng thiết lập cấu hình thiết bị. Nhưng nó cũng khiến tốc độ khởi động chậm lại. Cách vô hiệu hoá TMM Mở menu 'start' và nhấn chuột phải lên 'computer.' Chọn 'manage’. Trong cửa sổ computer management vừa hiện ra, vào 'task scheduler\Task scheduler library\Microsoft\Windows\MobilePC' Để vô hiệu hoá tính năng TMM, nhấn chuột phải lên tính năng này và chọn 'disable.' 93. Thay đổi tuỳ chọn tiết kiệm điện trong Vista Tính năng tiết kiệm điện trong Vista cho phép bạn tuỳ biến rất nhiều giá trị, thậm chí có thể đôi một vài chức năng và tốc độ để có thời gian sử dụng pin lâu hơn. Ngoài ra, ban có thể lưu lại các thiết lập đã có và sử dụng chúng chỉ khi nào cần. Cách thay đổi tuỳ chọn tiết kiệm điện trong Vista Mở menu 'start' và gõ 'power'. Nhấn Enter. Trong cửa sổ vừa mở, chọn 'create a power plan' bên tay trái. Lấy 'power saver' làm mẫu mặc định và đặt tên cho ‘custum plan’, nhấn 'next.' Chọn bất kỳ giá trị nào bạn muốn, rồi nhấn ‘ok’. Vậy là thay đổi của bạn đã được thiết lập. Chọn thay đổi này và nhấn 'change plan settings,' sau đó là 'change advanced power settings.' Tại đây bạn có thể điều chỉnh để có thời gian sử dụng pin lâu nhất, tuỳ vào tần suất sử dụng laptop. Dưới đây là một số gợi ý tốt để tiết kiệm điện: · Tắt ổ cứng sau 10 phút không sử dụng. · Dùng mode tiết kiệm điện cao nhất cho adapter không dây · Tìm và index mode tiết kiệm điện. 94. Vô hiệu hoá giao diện Aeroglass để tiết kiệm pin Nếu laptop của bạn có thể chạy Aero, bạn vẫn có thể vô hiệu hoá nó… ít nhất là khi đang chạy pin. Nguyên nhân chính ở đây là Aero tiêu tốn rất nhiều năng lượng trên card đồ hoạ, buộc nó phải hoạt động nặng hơn nhiều chứ không chỉ đưa pixel lên màn hình, do đó thời gian sử dụng pin bị rút ngắn khá nhiều. Sau khi vô hiệu Aero, bạn sẽ thấy chiếc laptop của mình hoạt động nhẹ nhàng hơn hẳn. Cách vô hiệu hoá giao diện Aeroglass: Nhấn chuột phải lên một vùng trống trên desktop và chọn 'personalize'. Nhấn 'window colour and appearance', rồi tiếp đến 'open classic appearance properties for more options’. Trong menu thả, chọn 'Vista Basic' và nhấn 'OK'. |
|
#14
| ||||
| ||||
| Cải thiện việc chơi game trên Vista 95. Cập nhật file DirectX9 để tăng độ tương thích game Bạn có thể dễ dàng chơi những game không phổ biến lắm như FEAR hay 3Dmark06 trên Vista. Để chơi được các game này, bạn cần có phiên bản Directx 9 mới nhất. Bình thường, Vista chỉ cài một số phần trong Directx 9 để tăng tính tương thích. Vì thế, điều bạn cần làm là cài đặt phiên bản Directx 9 đầy đủ. Cách cài đặt Directx 9 trên Windows Vista: Download bản DirectX 9 mới nhất từ Microsoft.com. Unzip file vào một thư mục trên màn hình hoặc trong My documents. Khởi động file DXSETUP. Bạn có thể xoá thư mục này sau khi việc cài đặt hoàn tất. 96. Vô hiệu hoá tính năng background khi chơi game Nếu bạn muốn tăng tốc độ game trong Vista, hãy thử điều chỉnh file thực thi để vô hiệu hoá một số tính năng màn hình nền. Vista cho phép bạn đặt lệnh trong file thực thi để tắt các hiệu ứng Vista 3D như Aero desktop khi chơi game. Cách vô hiệu hoá tính năng 3D desktop khi chơi game: Tìm vị trí file thực thi game. Cách tốt nhất là vào thư mục 'c:\program files' để tìm folder chứa game cần thiết, hoặc sử dụng chức năng tìm kiếm. Nhấn chuột phải vào file thực thi và chọn 'properties.' Bấm tab 'compatibility'. Trong mục 'settings', đánh dấu 'disable visual themes'. Bấm 'ok' Chú ý rằng mẹo này chỉ giúp vô hiệu hoá Aero desktop cho game mà bạn vừa điều chỉnh. 97. Chạy game DirectX 9 trong mode tương thích Windows XP Nhiều người phàn nàn rằng thỉnh thoảng Vista lại gặp vấn đề tương thích với các ứng dụng và game ‘cũ’. Đây là sự thật. Có rất nhiều chương trình lẽ ra có thể chạy được trên Vista, nhưng cuối cùng lại không bởi một hoặc nhiều lý do nào đó. May mắn là kể từ khi Vista ra đời, Microsoft đã phát hành một số bản vá để khắc phục vấn đề trên, nhưng rất nhiều game cũ vẫn không thể chơi được trên Vista. Dưới đây là một mẹo giúp bạn giải quyết lỗi này: hãy thử kích hoạt mode tương thích XP cho các game cũ, cũng như Windows XP có chứa mode tương thích với các hệ điều hành cũ hơn. Khi đó Vista có thể “bắt chước” được môi trường XP đến một mức độ nào đó. Bạn cần thực hiện thiết lập này với từng game một, vì thế hãy học cách tiến hành nó như sau: Cách kích hoạt mode tương thích XP khi chơi game: Tìm file thực thi cho game. Cách tốt nhất là vào thẳng thư mục c:\program files Nhấn chuột phải lên file thực thi và chọn 'properties.' Bấm tab 'compatibility'. Đánh dấu ô 'run this program in compatibility mode for...:’ và chọn 'Windows XP Service pack 2' từ menu thả bên dưới. Bấm 'OK' Bạn cần thực hiện điều này lần lượt với từng game. 98. Kích hoạt/điều chỉnh âm thanh 3D trong một số game Với Windows Vista, Microsoft đã thực hiện một thay đổi lớn về hiệu ứng âm thanh 3D. Tiếc là thay đỏi này lại khiến nhiều thiết bị (đặc biệt là những thiết bị phần cứng do Creative Labs sản xuất trong vài năm trở lại đây) không thể chạy hiệu ứng âm thanh 3D với rất nhiều game cả cũ lẫn mới. Nếu bạn dùng card âm thanh Creative Audigy hay X-Fi có hỗ trợ audio 3D, nhưng một số game lại không thể sử dụng tuỳ chọn này, hoặc thậm chí không có âm thanh sau khi đã kích hoạt, bạn có thể khắc phục lỗi một cách dễ dàng. Tin tốt là Creative Labs đã thiết kế một chương trình mang tên 'ALchemy' để xoá bỏ khoảng cách giữa phần cứng và phần mềm, cho phép bạn tận hưởng âm thanh audio ngọt ngào như trước. Còn tin xấu là ALchemy không phải là phần mềm miễn phí. Để download nó, bạn sẽ phải trả một khoản tiền nhỏ cho Creative. Cũng đúng thôi bởi đây không phải lỗi do Creative gây ra. Bạn có thể download chương trình này tại Creativelabes.com. 99. Tốc độ game thấp? Hãy thử chuyển sang mode DirectX 9 Nếu bạn đã có một số game DirectX10 đời mới như Bioshock hay Crysis nhưng lại thất vọng về tốc độ chúng mang lại, bạn có thể áp dụng mẹo dưới đây để tăng tốc game: Vào thư mục game ('start\games'), nhấn chuột phải lên biểu tượng game directX10 cần chơi. Bạn sẽ thấy tuỳ chọn 'play DirectX 9' hiện ra. Có thể bạn sẽ mất đi một số hiệu ứng đẹp mắt, nhưng bù lại, tốc độ khung đảm bảo sẽ cao hơn nhiều. Trên đây là 99 mẹo mới nhất tùy biến Windows Vista Hy vọng bạn sẽ có được sự thích thú khi áp dụng những mẹo này. P/S: Nếu bạn đọc từ đầu đến đây mà vẫn chưa bị tẩu hỏa nhập ma :M059: thì có 2 khả năng xảy ra : Bạn có thần kinh thép :M_nhoc2_45: hoặc bạn đã lĩnh hội đc tất cả "võ công" :M05: để làm chủ Windows Vista * Chúc may mắn !!!! :Mex10: |
![]() |
| Bookmarks |
| Thread Tools | |
| |